CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ CỦA QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LÀNG XÃ NAM BỘ THẾ KỶ XVII-XVIII 1.1 Tiền đề khách quan: 1.1 Điều kiện tự nhiên: Đất Nam Bộ xưa kia còn gọi là vùng Đồng Nai-Gia Định, điều kiện thiên nhiên và khí hậu có đặc điểm mang tính bán đảo, gió mùa nhiệt đới và nóng ẩm. Nhiệt độ và độ ẩm cao. Chế độ gió mùa tạo cho Nam Bộ có hai mùa rõ rệt. Từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ gió mùa Tây Nam, mùa này có nhiều mưa và tập trung khoảng 80%-90% lượng mưa cả năm.
Nam Bộ bao gồm hai tiểu vùng địa lý sinh thái: vùng phù sa cổ miền Đông Nam Bộ và vùng phù sa Tây Nam Bộ (Đồng Bằng Sông Cửu Long). Đồng bằng sông cửu long là một vùng đồng bằng lớn ở phía Nam của nước ta. Đồng bằng này do Sông Cửu Long bồi đắp nên. Sông Cửu Long còn có tên khác là sông MêKông hay sông “Mẹ”, dài 48000 km, chảy qua các nước như Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi đổ vào địa phận Việt Nam ở vùng Nam Bộ khoảng 250 km trước khi đổ ra biển Đông.
Khi đổ vào đồng bằng Nam Bộ, sông phân ra làm 2 nhánh là sông Tiền và sông Hậu. Từ hai nhánh này lại phân ra các nhánh sông nhỏ khác. Sông Tiền nhận 2/3 lượng nước của sông MêKông, chảy qua Tân Châu, Cao Lãnh, Sa Đéc rồi Vĩnh Long. Khi còn cách biển khoảng 10 km lại chia làm 2 nhánh là sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên.
Sông Tiền đổ ra biển Đông qua 6 cửa: cử tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Sông Hậu chảy qua vùng Châu Đốc, Long Xuyên đến Cần Thơ chia làm nhiều nhánh rồi hội nhập ngay lại, cuối cùng đổ ra biển Đông bằng cửa Ba Thắc, cửa Định An và cửa Tranh Đề. Toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm bồi lắng phù sa của con “sông Mẹ”. Sông sâu, rộng và dòng chảy mạnh, có nhiều đảo sông.
Ven sông có hệ thống đê tự nhiên, đất đai màu mỡ. Kế đến là vùng “bưng sau đê” với những quần thể thực vật thuỷ 6 sinh phong phú. Cuối cùng là vùng đất bằng phẳng và thấp dùng để canh tác nông nghiệp. Phía dưới là vùng châu thổ với một lớp phù sa mới.
Vùng phù sa mới gồm nhiều phần tạo nên như đê thiên nhiên, đồng ngập trũng, bưng lầy, đất giồng, đất phèn, đất mặn, đất than bùn, đất phù sa, thích hợp cho cây nông nghiệp như lúa nước phát triển. Như vậy với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi này, Nam Bộ thích hợp cho nền kinh tế tiểu nông, là mành đất thuận lợi tạo tiền đề ban đầu cho những lưu dân người Việt quần cư lập ấp ở một vùng phù sa màu mỡ. Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện thuận lợi này thì thiên nhiên Nam Bộ cũng đầy khó khăn, thách thức. Theo sử sách của người Việt và người nước ngoài (chủ yếu là người Pháp) thì ở miền đất Nam Bộ xưa, trước khi những người Việt đặt chân lên hãy còn hoang sơ lắm “vùng này không có mỏ vàng, mỏ bạc, đầu khấu, trầm hương hay hồ tiêu…để hấp dẫn thương khách.
Đất đai thì còn rừng rậm hoang sơ, nhiều thú dữ như cọp, sấu.khí hậu thì ẩm thấp rất khó làm ăn…”1 Khung cảnh thiên nhiên hoang sơ và độc địa của vùng đất màu mỡ này đã làm nản lòng nhiều người nhưng nó không thể làm nhụt chí những người Việt đi khai hoang trong buổi đầu như thực tế lịch sử đã chứng minh. Bởi vì lưu dân người Việt từ miền Bắc Trung Bộ vào vùng đất Nam Bộ, tuy xuất thân từ nhiều thành phần: những người bị tù đày, những người trốn tránh ưu thuế, binh dịch, những binh lính đào ngũ, những nông dân nghèo, những người trốn chiến tranh… nhưng họ có cùng mục đích, đó là quyết tâm tạo dựng cuộc sống mới để an cư lập nghiệp. Họ mang theo những truyền thống, kinh nghiệm của vùng văm minh Sông Hồng đến khai thác vùng đất mới.3 Điều kiện cư dân: Cư dân vùng đất Nam Bộ lúc này gồm: Cư dân Phù Nam là một cộng đồng cư dân đa chủng tộc, và đa ngôn ngữ thuộc chủng tộc Indonesian. Trong đó thì cư dân của các nhóm Malayo-Polynesian (hay người Nam Đảo, là chủ nhân của văn hoá Oc Eo) có phần nổi trội hơn.
Người Phù Nam cư trú trên các vùng cao thuộc miền Đông Nam Bộ, lấy việc canh tác nông nghiệp sản xuất lúa 1 Sơn Nam, đất Gia Định-Bến Nghé cưa và người Sài Gòn, NXB Trẻ, 2004, trang 16 7 nước là nền kinh tế chính với các công cụ canh tác như dao, rìu đá… Do kỹ thuật còn thô sơ và lạc hậu nên ở buổi đầu, họ chỉ có thể khai phá những vùng đất ven các bờ sờn đồi, gần các bờ sông, bờ suối…có thể họ đã tiến hành khai phá vùng phù sa cổ ở sông Đồng Nai để trồng lúa khô, lúa rẫy là một đặc điểm của quá trình phát triển kinh tế ở buổi đầu của cư dân vùng cao Nam Bộ. Với sự suy tàn của vương quốc Phù Nam, cư dân này ngày càng thưa thớt, sống rãi rác. Cư dân thứ hai là người Khmer. đây là lớp cư dân của đế chế Angkor do không chịu nổi ách thống trị hà khắc và công việc lao dịch, xây dựng các đền tháp cực khổ nên họ đã cùng nhau di cư xuống phía Nam.
Một bộ phận trong số này dừng chân và định cư ở vùng Nam Bộ nước ta. Về sau, khi vương triều Angkor sụp đổ. Nước mất nhà tan, ngươi Khmer bị đẩy vào cành nghèo đói và sự áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến ngoại tộc. Chính vì vậy mà từ thế kỷ XV, XVI làn sóng di cư của người Khmer chống phong kiến ngoại tộc Xiêm chạy xuống vùng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long ngày càng thêm đông đúc.
Ra đi với mục đích tránh chiến tranh loạn lạc, chế độ thuế khoá nặng nề, người Khmer đã tìm được cho mình mảnh đất mới tự do. Nam Bộ là một vùng đất rộng, trù phú chưa có người quản lý nên lúc tới đây, họ sẽ không gặp phải sự chống đối hay bị ràng buộc, quản lý với một chính quyền nào cả. Ở đây họ được sống một cuộc sống tự do, người Khmer chính là tầng lớp cư dân có mặt sớm nhất ở vùng đồng bằng Nam Bộ này và đã tiến hành khai khẩn nó ở một chừng mựng nhất định nhằm phục vụ cho cuộc sống và sự tồn tại của họ. Người Khmer quần tụ trong các phum, sóc đã được thiết lập từ lâu đời trên các giồng đất cao, bao quanh các ngôi chùa Phật giáo tiểu thừa giữa những hàng cây cao su cao vút.
Như vậy, người Phù Nam, người Khmer là cư dân bản địa của Nam Bộ, do đặc điểm cư trú, hoạt động kinh tế, số lượng ít, lại ở vùng đất Nam Bộ vẫn còn hoang hóa, chưa được khai phá nhiều, thì việc người Việt đến đây định cư, lập nghiệp không gặp trở ngại và khó khăn nhiều từ phía cư dân bản địa này. Có một điều trùng hợp ngẫu 8 nhiên thể hiện tinh thần đoàn kết giữa người Việt và người Khmer. Đó là lý do họ đến đây tương tự như nhau, cùng chạy trốn cảnh chiến tranh loạn lạc bởi các phe phái trong nước giành quyền lực gây nên hoặc do bị giai cấp phong kiến bóc lột thậm tệ hoặc do sự xâm chiếm của phong kiến ngoại tộc. Tất cả họ ra đi với mơ ước tìm được một cuộc sống mới bình yên và hạnh phúc.
Chính vì vậy mà khi người Việt đến đây, người Khmer không hề xua đuổi hay kỳ thị gì cả. Họ đã cùng chung sống và chung tay cùng người Việt khai khẩn đất đai sinh sống. Cư dân thứ ba là người Chăm: chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ truyền thống nhưng trên đất Nam Bộ, người Chăm vẫn là người “đến sau”, gần như cùng lúc với người Việt, người Hoa. Người Chăm đến đây với tư cách là những thần dân phiêu tán của vương quốc Chămpa đang bị tan rã.
Dân tộc Việt và dân tộc Chăm là hai dân tộc có sự gần gũi nhau cùng là những người di cư đến vùng đất Nam Bộ để mong tạo dựng cuộc sống mới. Điều này cũng tạo điều kiện khi lưu dân người Việt khai hoang lập ấp, thì giữa người Việt, người Chăm không xảy ra tình trạng xung đột dân tộc gay gắt, đẩy nhanh quá trình lập nghiệp của lưu dân Việt. Cư dân thứ tư là người Hoa. Bộ phận người Hoa trên đất Nam Bộ vốn là vốn là người khách trú với tư cách thần dân con cháu triều Minh sụp đỗ, sang tị nạn chính trị ở Việt Nam, được các chúa Nguyễn giúp đỡ: ưu đãi về thuế khóa như quy định các cư dân người Hoa, chỉ chịu mức thuế phân nửa mức thuế của người Việt cùng loại, họ còn được miễn các việc phu dịch, sưu sai, không phải đi quân dịch, tạo điều kiện cho hoạt động buôn bán người Hoa trên vùng đất Nam Bộ.
Tóm lại, xét về điều kiện dân cư thì ở vùng đất Nam Bộ, có sự hiện diện của các cộng đồng dân cư khác nhau nhưng từ những đặc điểm trên cũng tạo nên hệ quả “nhân tố mới” mang tính động lực của sự giao tiếp, là một trong nhiều nguyên nhân chi phối tính năng động của làng Việt Nam Bộ khi thành hình.3 Điều kiện lịch sử: Từ thế kỳ XVII trở về trước, vùng đất này thuộc vùng đất Phù Nam, sau đó là Chân Lạp. Nhà nước Phù Nam hình thành trên cơ sở của một nhóm tộc người trên vùng cao của lưu vực các con sông. Đất nước Phù Nam tồn tại khoảng từ đầu công nguyên 9 đến thế kỷ VII, phồn thịnh vào khoảng thề kỷ II đến thề kỷ VI. Họ đã chiếm cả một vùng đất rộng lớn từ đồng bằng sông Cửu Long đến Nam Trung Bộ.
Quốc gia Phù Nam hình thành từ bảy tiểu quốc nhỏ. Những di chỉ khai quật khảo cổ học đã khẳng định rằng, văn hoá Oc Eo không chỉ nằm ở bờ phía bờ Tây sông Hậu (thuộc An Giang, Kiên Giang ngày nay) mà còn rải rác rộng trên khắp các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Tây Nguyên. Đến đầu công nguyên, khi thiên nhiên Nam Bộ mở ra những điều kiện tương đối thuận lợi hơn cho cuộc sống của con người. Xã hội Phù Nam với nền văn hoá Oc Eo đã lan rộng ra khắp đồng bằng sông Cửu Long và tiếp thu nhiều luồng văn hoá mới.