Tổng quan nghiên cứu

Năm 2018, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận bước phát triển vượt bậc khi đón hơn 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 30% so với năm 2016, đồng thời phục vụ hơn 73 triệu lượt khách nội địa. Thành tựu này đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, tại vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, du lịch tỉnh Trà Vinh vẫn là điểm trũng khi lượng khách ghé thăm luôn ở mức thấp, số ngày lưu trú bình quân chưa cao và nguồn thu du lịch còn rất khiêm tốn so với tiềm năng sẵn có. Vấn đề cốt lõi của du lịch địa phương là sự trùng lắp, đơn điệu về sản phẩm, dẫn đến tình trạng sao chép mô hình giữa các tỉnh trong vùng và làm suy giảm sức cạnh tranh điểm đến.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích thực trạng hoạt động du lịch, từ đó xác lập các tiêu chí khoa học và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù nhằm nâng cao sức hấp dẫn, định vị thương hiệu riêng biệt cho Trà Vinh. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian toàn tỉnh Trà Vinh, tập trung trọng điểm tại thành phố Trà Vinh, huyện Cầu Kè, Cầu Ngang, Châu Thành và thị xã Duyên Hải. Phạm vi thời gian sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014-2018 và dữ liệu sơ cấp khảo sát thực địa trong 6 tháng, từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng cấp 83 cơ sở lưu trú hiện có, kéo dài thời gian lưu trú của du khách và đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1980), trong đó nhấn mạnh sự khác biệt và chất lượng sản phẩm là yếu tố then chốt quyết định vị thế của điểm đến trên thị trường. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình cấu trúc sản phẩm du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO với ba nhóm cấu thành: tài nguyên, hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ quản lý hình ảnh.

Luận văn kế thừa quan điểm của Trần Văn Thông (2016) khi xác định sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Về sản phẩm du lịch đặc thù, tác giả vận dụng định nghĩa của Phạm Trung Lương (2008), khẳng định đây là sản phẩm sở hữu tính hấp dẫn, độc đáo, nguyên bản và đại diện cho một lãnh thổ, kết hợp với mô hình cấu trúc bốn thành tố của Trần Văn Thông (2018) gồm: tài nguyên khác biệt, dịch vụ đặc biệt, năng lực quản lý và sự tham gia của cộng đồng địa phương. Khung đánh giá được cụ thể hóa qua 3 tiêu chí cốt lõi: Tiêu chí 1 về tài nguyên hấp dẫn độc đáo; Tiêu chí 2 về tính khác biệt duy nhất; Tiêu chí 3 về dịch vụ du lịch sáng tạo. Ngoài ra, đề tài bám sát các định hướng từ Đề án xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định số 194/QĐ-BVHTTDL ngày 23/1/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các cơ quan quản lý nhà nước giai đoạn 2014-2018 và nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra thực địa trong 6 tháng (từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019). Cỡ mẫu khảo sát gồm 200 phiếu phát ra tại 5 địa bàn trọng điểm du lịch của tỉnh, thu về 188 phiếu hợp lệ từ khách nội địa (chiếm 94%) và 12 phiếu từ khách quốc tế (chiếm 6%). Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo địa bàn không gian tài nguyên nhằm phản ánh chính xác thị hiếu tiêu dùng của từng phân khúc du khách. Đồng thời, đề tài triển khai phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn sâu các nhà quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh, các doanh nghiệp lữ hành và các nhà nghiên cứu du lịch.

Phương pháp phân tích thống kê mô tả được lựa chọn để tổng hợp và nhận dạng thực trạng hoạt động du lịch. Tác giả sử dụng thang đo Likert 5 mức độ với giá trị khoảng cách 0,8 để lượng hóa mức độ hấp dẫn của tài nguyên và độ hài lòng của du khách đối với các tiện nghi dịch vụ. Lý do lựa chọn thang đo khoảng này là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, giúp chuyển đổi các nhận định định tính của du khách thành các chỉ số định lượng cụ thể, từ đó chỉ ra chính xác các điểm nghẽn trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch của tỉnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Trà Vinh sở hữu nguồn tài nguyên du lịch văn hóa nhân văn và tự nhiên vô cùng phong phú nhưng chưa được khai thác tương xứng. Về văn hóa, tỉnh có 36 di tích được xếp hạng, gồm 14 di tích cấp quốc gia và 22 di tích cấp tỉnh; 143 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer cổ kính (chiếm gần 24% trong tổng số khoảng 600 ngôi chùa Khmer toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long); cùng 3 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm nghệ thuật Chầm-riêng Chà-pây, lễ hội Ok Om Bok và nghệ thuật Rô-băm. Về tự nhiên, danh thắng Ao Bà Om có diện tích hơn 100.000 m2, cù lao Long Trị trên 10 ha, Cồn Chim 60 ha và mỏ nước khoáng nóng Cồn Ông có công suất 240 m3/ngày đêm ở nhiệt độ 37,5 độ C tạo nền tảng vững chắc cho du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.

Thứ hai, hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn nhiều hạn chế và phân bổ mất cân đối. Giai đoạn 2014-2018, số lượng cơ sở lưu trú tăng từ 71 lên 81 đơn vị, đạt 83 cơ sở vào năm 2018 với 994 phòng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,8%/năm. Tuy nhiên, cơ cấu lưu trú năm 2018 cho thấy nhà nghỉ bình dân chiếm tới 76% (63 cơ sở), khách sạn từ 2 sao trở xuống chiếm 19% (16 cơ sở), trong khi khách sạn 3 sao chỉ chiếm 3% (2 cơ sở) và homestay chỉ chiếm 2% (2 cơ sở). Toàn tỉnh có 124 doanh nghiệp du lịch thì có tới 82% doanh nghiệp quy mô nhỏ với vốn đầu tư dưới 1 tỷ đồng, chỉ 1,75% có vốn trên 10 tỷ đồng và chỉ có 10 đơn vị kinh doanh dịch vụ lữ hành.

Thứ ba, nguồn nhân lực ngành du lịch gia tăng về số lượng nhưng chất lượng chuyên môn cao còn thiếu hụt. Tổng số lao động du lịch tăng từ 389 người năm 2014 lên 579 người năm 2018, tăng trưởng 19% trong năm 2018. Trong đó, lao động tại các cơ sở lưu trú tăng mạnh từ 306 lên 482 người (tăng 24%). Dù vậy, cơ cấu trình độ năm 2018 chỉ có 20% lao động đạt trình độ đại học (116 người), 28% trình độ cao đẳng (165 người), còn lại 52% là trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật sơ cấp (298 người).

Thứ tư, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phát triển chậm và mang tính tự phát. Toàn tỉnh chỉ có 33 cơ sở kinh doanh ăn uống đạt chuẩn vào năm 2018, tăng bình quân 9,44%/năm từ 23 cơ sở năm 2014. Khu vực tư nhân chiếm tới 93,9% (31 cơ sở) và chỉ có 2 cơ sở do nhà nước quản lý, chưa hình thành được chuỗi nhà hàng chuyên nghiệp phục vụ các món ăn đặc sản bản địa cho các đoàn khách lớn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng lưu lượng khách và doanh thu du lịch Trà Vinh thấp hơn nhiều so với các tỉnh trong tiểu vùng duyên hải phía Đông Đồng bằng sông Cửu Long xuất phát từ sự thiếu vắng các sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh cao. Các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 53, Quốc lộ 54 và Quốc lộ 60 chưa đáp ứng trọn vẹn nhu cầu kết nối nhanh chóng giữa các trung tâm du lịch lớn.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ hình cột thể hiện biến động lao động giai đoạn 2014-2018, biểu đồ hình tròn minh họa tỷ lệ cơ cấu lưu trú năm 2018 với 76% là nhà nghỉ, cùng các bảng tổng hợp kết quả đánh giá thang đo Likert về mức độ hấp dẫn của tài nguyên văn hóa và tự nhiên. Minh họa trực quan này làm rõ nghịch lý: tài nguyên văn hóa Khmer được du khách đánh giá rất cao về tính độc đáo, nhưng điểm số hài lòng về dịch vụ lưu trú và tiện nghi bổ trợ lại ở mức trung bình thấp.

So sánh với bài học thành công từ tỉnh Bắc Ninh (năm 2016 đón 847.000 lượt khách, doanh thu đạt 589 tỷ đồng nhờ định vị di sản quan họ) hay tỉnh Lai Châu (năm 2015 đón 183,5 nghìn lượt khách, thu nhập du lịch đạt 274 tỷ đồng nhờ sản phẩm nghỉ dưỡng khoáng nóng và văn hóa bản địa), Trà Vinh hoàn toàn có thể bứt phá nếu xây dựng thành công chuỗi sản phẩm mang bản sắc văn hóa ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa kết hợp sinh thái miệt vườn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, định vị và hoàn thiện hệ thống sản phẩm du lịch đặc thù trọng điểm. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Trà Vinh cần phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện tập trung phát triển ba dòng sản phẩm mũi nhọn: Du lịch văn hóa - tâm linh Khmer gắn với Làng Văn hóa - Du lịch Khmer Trà Vinh và quần thể 143 ngôi chùa; Du lịch sinh thái miệt vườn sông nước tại Cồn Chim (60 ha), cù lao Long Trị (10 ha) và cù lao Tân Quy; Du lịch nghỉ dưỡng biển kết hợp tắm khoáng nóng tại biển Ba Động và mỏ khoáng Cồn Ông (37,5 độ C). Mục tiêu nâng tỷ lệ khách lưu trú lên trên 35% trong giai đoạn 2020-2025.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ cấu lưu trú. Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành chính sách ưu đãi đầu tư nhằm thu hút các tập đoàn lớn xây dựng khách sạn 3-4 sao, nâng tỷ lệ phòng đạt chuẩn cao cấp từ 3% năm 2018 lên mức 15-20% vào năm 2025. Đồng thời, Trung tâm Xúc tiến Du lịch cần hỗ trợ người dân nhân rộng mô hình homestay sinh thái cộng đồng đạt chuẩn từ 2 cơ sở lên trên 20 cơ sở tại Cầu Kè, Cầu Ngang và Châu Thành trong giai đoạn 2020-2023.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Trường Đại học Trà Vinh phối hợp với Hiệp hội Du lịch tổ chức đào tạo lại kỹ năng nghề, ngoại ngữ và văn hóa giao tiếp cho 579 lao động hiện có. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhân lực có trình độ đại học chuyên ngành từ 20% năm 2018 lên 35-40% vào năm 2025, đồng thời mở các lớp tập huấn kỹ năng đón tiếp khách cho cộng đồng dân cư địa phương.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết vùng và xây dựng bộ nhận diện thương hiệu du lịch. Tỉnh cần chủ động liên kết với các địa phương trong tiểu vùng duyên hải phía Đông (Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Tiền Giang) để xây dựng tour liên tuyến không trùng lặp, đồng thời triển khai chiến dịch marketing số định vị khẩu hiệu du lịch Trà Vinh trên các nền tảng truyền thông hiện đại trong giai đoạn 2020-2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Trà Vinh). Sử dụng hệ thống 3 tiêu chí đánh giá sản phẩm đặc thù và các số liệu thống kê giai đoạn 2014-2018 để hoạch định chính sách quy hoạch không gian du lịch, ban hành các đề án phát triển kinh tế ban đêm và xúc tiến đầu tư hạ tầng đồng bộ.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp lữ hành và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Khai thác dữ liệu khảo sát 200 du khách để xây dựng các chương trình tour trải nghiệm văn hóa Khmer, tour ẩm thực đặc sản bánh tét Trà Cuôn, dừa sáp Cầu Kè, cũng như nâng cấp chất lượng dịch vụ ăn uống và lưu trú nhằm gia tăng mức chi tiêu của du khách.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành. Tham khảo phương pháp luận khoa học, cách ứng dụng khung lý thuyết của Michael Porter, UNWTO và quy trình xử lý dữ liệu khảo sát bằng thang đo Likert 5 mức độ trong nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch cấp tỉnh.

Nhóm 4: Cộng đồng cư dân và các hộ kinh doanh du lịch nông nghiệp, homestay tại các cù lao. Nắm bắt được phương thức giữ gìn nét nguyên bản của đời sống làng quê, phát huy giá trị văn hóa bản địa ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa để cung cấp các dịch vụ trải nghiệm độc đáo, góp phần phát triển sinh kế bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận văn xác định những nguồn tài nguyên cốt lõi nào để phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tỉnh Trà Vinh?

Trả lời: Nghiên cứu khẳng định Trà Vinh sở hữu kho tàng văn hóa đặc sắc gồm 36 di tích xếp hạng (14 di tích cấp quốc gia), 143 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer và 3 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Về tự nhiên, danh thắng Ao Bà Om trên 100.000 m2, Cồn Chim 60 ha, cù lao Long Trị 10 ha và mỏ khoáng nóng Cồn Ông 37,5 độ C là nguồn tài nguyên độc nhất để tạo sản phẩm đặc thù.

Câu hỏi 2: Thực trạng cơ sở lưu trú của tỉnh Trà Vinh trong giai đoạn nghiên cứu bộc lộ hạn chế gì lớn nhất?

Trả lời: Hạn chế lớn nhất là cơ cấu cơ sở lưu trú mất cân đối nghiêm trọng. Năm 2018, toàn tỉnh có 83 cơ sở lưu trú với 994 phòng nhưng nhà nghỉ bình dân chiếm tới 76% (63 cơ sở), cơ sở từ 2 sao trở xuống chiếm 19%, trong khi khách sạn 3 sao chỉ chiếm 3% (2 cơ sở) và homestay chỉ chiếm 2%, gây khó khăn trong việc thu hút khách chi tiêu cao.

Câu hỏi 3: Phương pháp điều tra khảo sát khách du lịch trong luận văn được tiến hành như thế nào?

Trả lời: Tác giả phát 200 phiếu khảo sát tại 5 địa bàn trọng điểm du lịch trong tỉnh, thu về 188 phiếu khách nội địa (94%) và 12 phiếu khách quốc tế (6%). Dữ liệu được phân tích thống kê mô tả qua thang đo Likert 5 mức độ với khoảng cách 0,8 để lượng hóa chính xác mức độ hấp dẫn của tài nguyên và độ hài lòng về dịch vụ.

Câu hỏi 4: Nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Trà Vinh gặp phải rào cản nào về chất lượng chuyên môn?

Trả lời: Mặc dù quy mô nhân lực tăng từ 389 người năm 2014 lên 579 người năm 2018 (tăng 19% năm 2018), nhưng chất lượng chuyên môn còn khiêm tốn. Năm 2018, lao động có trình độ đại học chỉ chiếm 20% (116 người), cao đẳng chiếm 28%, trong khi 52% còn lại là trung cấp và công nhân kỹ thuật sơ cấp, thiếu nhân sự giỏi ngoại ngữ.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất hướng đi nào để sản phẩm du lịch Trà Vinh không bị trùng lặp với các tỉnh lân cận?

Trả lời: Luận văn định hướng tập trung khai thác chiều sâu văn hóa Khmer Nam bộ gắn với 143 ngôi chùa cổ kính và mô hình du lịch sinh thái nông nghiệp tự nhiên tại Cồn Chim rộng 60 ha. Đồng thời, Trà Vinh cần liên kết chặt chẽ với Bến Tre, Vĩnh Long, Sóc Trăng để tạo nên các tuyến du lịch bổ trợ, tránh sao chép lẫn nhau.

Kết luận

  • Hệ thống hóa khung cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên quan điểm của UNWTO, Michael Porter (1980), Phạm Trung Lương (2008) và Trần Văn Thông (2018).
  • Nhận diện giá trị nổi trội của hệ thống tài nguyên với 143 ngôi chùa Khmer, 36 di tích xếp hạng, 3 di sản phi vật thể quốc gia cùng hệ sinh thái cù lao Cồn Chim 60 ha.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng giai đoạn 2014-2018, chỉ ra các điểm nghẽn khi 76% cơ sở lưu trú là nhà nghỉ, 82% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và 52% nhân lực có trình độ dưới cao đẳng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về quy hoạch sản phẩm mũi nhọn, nâng cấp lưu trú cao cấp, chuẩn hóa 579 lao động du lịch và tăng cường liên kết tiểu vùng duyên hải phía Đông.
  • Xác lập lộ trình phát triển giai đoạn 2020-2023 tập trung hoàn thiện hạ tầng, dịch vụ và giai đoạn 2023-2025 mở rộng quảng bá thương hiệu du lịch bền vững.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện cùng bộ tiêu chí khoa học giúp chuyển hóa tiềm năng tài nguyên văn hóa đa sắc tộc thành các sản phẩm du lịch đặc thù có giá trị kinh tế cao. Các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu quan tâm đến phát triển du lịch bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long hãy áp dụng các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn quản lý và kinh doanh.