Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển TM ở cấp huyện. Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển TM trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển TM trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI Ở CẤP HUYỆN 1.
Sự cần thiết và vai trò của chính sách nhà nƣớc về phát triển TM trên địa bàn huyện 1. Sự cần thiết của chính sách nhà nước về phát triển Thương mại trên địa bàn huyện 1. Đặc điểm, hình thức và vai trò của TM cấp huyện a) Một số khái niệm - Khái niệm thương mại. Khái niệm Thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau có nhiều khái niệm về TM như: “Thương mại - hoạt động kinh tế: Nếu nhìn dưới góc độ một hoạt động kinh tế thì TM là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản và rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Mọi hoạt động TM đều bắt đầu bằng hành vi mua hàng và kết thúc bằng hoạt động bán. Mục đích của hoạt động TM là nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đối tượng của các hoạt động TM là các hàng hóa và dịch vụ. Chủ thể của hoạt động TM gồm những người bán (người sản xuất hàng hóa, người cung ứng dịch vụ, thương gia) và những người mua (người sản xuất, thương gia, những người tiêu dùng.
Tuy nhiên tham gia vào hoạt động TM còn có một số người khác như người môi giới, người đại lý thương mại.[3]” Thương mại là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: Quá trình tái sản xuất xã hội tái sản xuất xã hội gồm 4 khâu cơ bản: Sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Bốn khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau trong đó mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ cơ bản nhất. Là hình thái phát triển của trao đổi và lưu thông hàng hóa, TM được coi là một khâu cơ bản của tái sản xuất. TM chính là khâu trao đổi nằm trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng.
Trong điều kiện xã hội hóa sản xuất và lưu thông hàng hóa ngày một phát triển, hàng hóa được tạo ra trong khâu sản xuất, sau đó được chuyển sang khâu lưu thông 6 qua các giai đoạn khác nhau của khâu lưu thông: Mua ->Vận chuyển -> Dự trữ -> Bán. Kết thúc khâu lưu thông, hàng hóa sẽ được chuyển sang lĩnh vực tiêu dùng. Nó là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dung.[4] Thương mại - ngành kinh tế: Nếu nhìn dưới giác độ phân công lao động xã hội thì TM được coi là một ngành kinh tế độc lập của nền kinh tế. Ngành TM chuyên đảm nhận chức năng tổ chức lưu thông hàng hóa và cung ứng các dịch vụ cho xã hội thông qua việc thực hiện mua bán nhằm sinh lợi.
Nghiên cứu TM dưới các góc độ cơ bản: Hoạt động kinh tế, khâu của quá trình tái sản xuất xã hội cũng như góc độ ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân, chúng ta đều nhận thấy đặc trưng chung nhất của TM là buôn bán, trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ gắn với tiền tệ và nhằm mục đích lợi nhuận. Từ các bản chất kinh tế chung của Thương mại, trên góc độ lý thuyết được học tập và nghiên cứu thì ta có thể đưa ra khái niệm TM được hiểu theo hai nghĩa như sau: -“Thương mại theo nghĩa rộng: TM là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên Thị trường. TM đồng nghĩa với kinh doanh, được hiểu như. Các hoạt động kinh tế nhằm mục đích sinh lời thuộc các chủ thể kinh doanh trên thị trường.[5]” -“Thương mại theo nghĩa hẹp: TM là quá trình mua bán hàng hoá trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá.[5]” b) Đặc điểm của Thương mại cấp huyện Chủ thể người bán, người mua trên thị trường chủ yếu là nông dân, các hộ gia đình làm kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại hoặc sản xuất nhỏ và các tiểu thương (gọi chung là kinh tế tư nhân) được tập trung trên địa bàn huyện.
Ngoài ra, còn có các công ty, chi nhánh công ty thuộc các chủ sở hữu, các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của khu vực nông nghiệp, nông thôn. Người tiêu dùng trên thị trường Huyện với đặc điểm thu nhập chủ yếu phụ thuộc và sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, bên cạnh đó trình độ học vấn thấp, tay nghề không có và cơ hội việc làm không cao nên sức mua ở khu vực nông thôn trên địa bàn huyện luôn thấp hơn so với khu vực thành thị. 7 “Tại thị trường này trên địa bàn huyện, yếu tố về thông tin TM đang còn hạn chế do đó tình hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu phát triển mạnh ở thị trường khu vực nông thôn. TM hàng hóa xuất hiện tràn lan các mặt hàng kém chất lượng và không có nguồn gốc xuất xứ.” TM tại thị trường khu vực nông thôn trên địa bàn huyện, phần lớn người tiêu dùng vẫn chủ yếu gắn bó với các loại hình chợ truyền thống.
Nhưng hiện nay, thị trường khu vực nông thôn ngày càng được đánh giá là thị trường tiêu dùng đầy tiềm năng (đặc biệt là ngành bán lẻ). Mức thu nhập từ thị trường ở trên địa bàn huyện ngày càng tăng, do đó nhu cầu mua sắm thực phẩm, yếu phẩm cũng tăng theo. Nhu cầu tiêu dùng của nhóm người dân ở trên địa bàn huyện đang dần thay đổi theo hướng tiện ích, hiện đại, TM dịch vụ cũng phát triển mạnh. c) Các hình thức phát triển của TM cấp huyện Phát triển mô hình TM khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Phát triển mạng lưới chợ dân sinh ở địa bàn cấp xã: Phát triển mạng lưới kinh doanh của cá nhân, hộ kinh doanh, kể cả hộ nông dân vừa sản xuất vừa kinh doanh TM và của các HTX TM với quy mô nhỏ và vừa ở các xã, cụm xã với hoạt động chủ yếu là cung ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của xã viên HTX, kinh tế hộ, kinh tế trang trại và sinh hoạt của cư dân nông thôn.
“Cấu trúc TM trên địa bàn thị trấn, thị tứ, bao gồm: Phát triển mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất – chế biến, lưu thông hàng hóa và các HTX, liên hiệp HTX TM có hệ thống chi nhánh, cửa hàng, cơ sở sơ chế, phân loại, bao gói, bảo quản và dự trữ, các xí nghiệp, trang trại sản xuất, hệ thống bến bãi, kho cơ sở và kho trung chuyển đặt tại các thị trấn, thị tứ. Ngoài ra phát triển mạng lưới kinh doanh của các hộ kinh doanh có phương thức kinh doanh cơ bản như hộ kinh doanh trên địa bàn xã nhưng có quy mô lớn hơn, có phương thức kinh doanh hiện đại (nhượng quyền thương mại, kinh doanh theo chuỗi, TM điện tử) sớm hơn. Ngoài ra phát triển mạng lưới chợ trung tâm huyện, chợ dân sinh và một số loại hình tổ chức phân phối như siêu thị, trung tâm TM quy mô nhỏ và vừa (chủ 8 yếu là hạng III), cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi. được hình thành từng bước theo quy hoạch.” “Phát triển các loại hình tổ chức TM đặc thù: Tại các vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung hoặc vùng ven đô, tiếp tục cải tạo, nâng cấp, xây mới một số chợ đầu mối tổng hợp hoặc chuyên doanh bán buôn nông sản và vật tư nông nghiệp, tạo tiền đề hình thành các trung tâm đấu giá và sở giao dịch hàng nông sản.” “Tổ chức mạng lưới kinh doanh theo ngành hàng” “Đối với hàng nông sản: Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, hình thành các kênh tiêu thụ cấp độ lớn với sự tham gia của các doanh nghiệp nòng cốt (doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa), doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, HTX, liên hiệp HTX thương mại, hộ kinh doanh, hệ thống đại lý, chợ đầu mối nông sản cấp vùng và cấp tỉnh.
Gắn tổ chức kênh này với việc xây dựng mô hình thí điểm tiêu thụ một số nông sản chủ yếu (thóc gạo, lạc, rau, hoa quả, thủy sản) thông qua các HTX phương thức ký hợp đồng ngay từ đầu vụ sản xuất.” “Tại những vùng sản xuất nông sản hàng hóa chưa phát triển, phân tán, tạo lập kênh lưu thông ở cấp độ vừa và nhỏ, phù hợp cung cầu thị trường; với sự tham gia của doanh nghiệp, HTX thương mại, hộ kinh doanh… Hàng nông sản được tiêu thụ chủ yếu thông qua mạng lưới chợ, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh tại các thị trấn, thị tứ; chợ dân sinh và cửa hàng tạp hóa ở địa bàn xã. Gắn với kênh này là việc xây dựng mô hình thí điểm tiêu thụ một số nông sản chủ yếu (thóc gạo, lạc, rau, quả xuất khẩu, thủy sản) thông qua các hộ kinh doanh với hợp đồng kinh tế được ký vào thời điểm thu hoạch.” “Tại các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xây dựng mối liên kết kinh tế bền vững giữa hộ nông dân, HTX TM với cơ sở sản xuất -chế biến, giữa cơ sở sản xuất – chế biến với doanh nghiệp thương mại, xây dựng cơ chế để các hộ sản xuất và xã viên HTX được mua cổ phần trong các công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.” “Đối với vật tư nông nghiệp: Phát triển mạng lưới kinh doanh theo hướng 9 củng cố, hoàn thiện mạng lưới chợ tư liệu sản xuất, hệ thống phân phối, hệ thống đại lý, cơ sở kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh doanh. Triển khai xây dựng mô hình thí điểm cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) theo hướng gắn với các mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản.” “Đối với hàng công nghiệp tiêu dùng: Căn cứ nhu cầu, thị hiếu và mức thu nhập của cư dân nông thôn, thiết lập mạng lưới kinh doanh tiêu dùng với quy mô và phương thức hoạt động phù hợp từng địa bàn; phát triển các chợ kinh doanh tổng hợp, hệ thống đại lý, cửa hàng thương nghiệp tại các trung tâm cụm xã, cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp, HTX TM và hộ kinh doanh.” “Từng bước phát triển chuỗi cửa hàng tiện lợi, siêu thị, trung tâm TM trong quá trình cải tạo mạng lưới chợ truyền thống ở nông thôn, trước hết là tại các chợ ở thị trấn, thị tứ và ở các xã.