chương 1 của luận văn này tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tác giả đã nêu ra được mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu đồng thời đưa ra phương pháp nghiên cứu với quy trình cụ thể và các nguồn tài liệu sử dụng là cơ sở để tác giả thực hiện đề tài 6 2Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Có rất nhiều quan niệm về cạnh tranh, không chỉ với cạnh tranh trong nền kinh tế mà cạnh tranh nói chung cũng vây.
Cạnh tranh vừa có tính vi mô ( Cạnh tranh trong phạm vi doanh nghiệp) vừa có phạm vi vĩ mô (cạnh tranh trong phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hay phạm vi khu vực liên quốc gia). Cạnh tranh trong các phạm vi khác nhau chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở mỗi phạm vi. Đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận còn đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho người dân vv. Marx (Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin, NXB Chính trị Quốc gia 2009): "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch ".
Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. - Các tác giả trong cuốn “ Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc dự án VIE/97/2016 ( Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, 2002) thì cho rằng: cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhắm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. - Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1, 1995) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. 7 Các khái niệm khác nhau về canh tranh đều tập trung vào những yếu tố sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, giành giật lấy một đối tượng cụ thể Mục đích cuối cùng của cạnh tranh là kiếm được lợi nhuận cao Cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có ràng buộc các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, Một số công cụ được sử dụng trong cạnh tranh như: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng chính sách giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng chiến lược tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh bằng các dịch vụ bán hàng.
Như vậy, khái niệm cạnh tranh trong kinh tế có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua đấu tranh, giành giật khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các đối thủ để đạt được các mục tiêu kinh tế của mình. Ngày nay cạnh tranh không phải tiêu diệt đối thủ mà là xu hướng hợp tác để tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để có được sự lựa chọn của khách hàng. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng, tiềm lực mà doanh nghiệp đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trường một cách lâu dài. Có rất nhiều các khái niệm về năng lược cạnh tranh, ở đây tác giải xin để cập tới một số định nghĩa như sau: Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Các định nghĩa trên đều chung quy rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh 8 nghiệp khác. Năng lực cạnh tranh của công ty là một hàm số của các biến số như: các nguồn lực nội tại của công ty, sức mạnh thị trường của công ty và các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh trạnh không chỉ được tính bằng các tiêu chí một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Như vậy, có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô.
Khái niệm lợi thế cạnh tranh Theo Michael Porter “ Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh ( trong khi lợi ích cho người mua là tương đương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn” [8] “Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi có có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài” [3] Từ định nghĩa trên cho thấy khi một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ có cái mà đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn hoặc làm được những việc mà đối thủ không làm được. Hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một công ty và do đó biểu thị nó có lợi thế cạnh tranh hay không đó là lượng giá trị mà các khách hàng cảm nhận về hàng hóa hay dịch vụ của công ty và chi phí sản xuất của nó.
9 V : Giá trị đối với khách hàng P: Giá C: Chi phí sản xuất V- P : Thặng dư người tiêu dùng P-C: Lợi nhuận biên Hình 2.1: Sự hình thành giá trị cho khách hàng (Nguồn:http://thuvienso.vn/doc/bai-giang-mon-quan-tri-chien- luoc-ths-le-thi-bich-ngoc-314392.html) Khi khách hàng tiêu dùng một sản phẩm thì giá trị đối với khách hàng là V, mức giá là P và chi phí sản xuất sản phẩm là C. Biên lợi nhuận của công ty là P-C trong khi đó khách hàng sẽ được một thặng dư là V-P. Công ty tạo ra một lợi nhuận vì P>C, và tỷ lệ lợi nhuận càng lớn nếu C càng nhỏ tương đối với P. Như vậy có thể thấy cách thức mà công ty có được lợi thế cạnh tranh như sau: - Công ty sẽ cố gắng tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng làm cho họ có sự thỏa mãn vượt trên cả mong đợi của chính họ và họ sẵn sàng trả giá P cao hơn.
- Công ty có thể cố gắng nâng cao hiệu quả các hoạt động của mình đề giảm chi phí (C), giúp cho lợi nhuận tăng lên. 10 Như vậy, có bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là:hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng. Bốn yếu tố này là những khối chung của lợi thế cạnh tranh.2 Các khối cơ bản tạo lợi thế cạnh tranh Nguồn: [4] Mỗi yếu tố đều có sự ảnh hưởng đến việc tạo ra sự khác biệt. Bốn yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn thông qua việc hạ thấp chi phí hay tạo sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ.
Các loại lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp đang sử dụng phổ biến trong quá trình cạnh tranh hiện nay là: Thứ nhất, chất lượng hàng hóa. Giữa những hàng hóa có công dụng như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẽ sẵn sàng mua hàng hóa nào có chất lượng cao hơn. Thứ hai, giá cả hàng hóa. Hai hàng hóa có cùng công dụng, chất lượng như nhau thì người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa nào có giá rẻ hơn.
Thứ ba, áp dụng khoa học – kỹ thuât và quản lý hiện đại. Việc áp dụng khoa học kỹ thuây và quản lý hiện đại giúp năng suất lao động tăng và giảm chi phí sản xuất, chất lượng hàng hóa được nâng cao tạo lợi thế canh tranh cho đoanh nghiệp. 11 Thứ tư, là lợi thế về thông tin. Thông tin về thị trường mua bán, thông tin về tâm lý thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ cạnh tranh… có ý nghĩa quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ năm, phương thức phục vụ và thanh toán trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là công cụ tạo ra sự tiện lợi cho khách hàng. Thứ sáu, tính độc đáo của sản phẩm. Sản phẩm càng độc đáo thì chu kỳ sống càng cao giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn và trong thời gian dài hơn.
Thứ bảy, chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thứ tám, lợi thế của các yếu tố mới sáng tạo và sự mạo hiểm, rủi ro. Các chủ thể kinh doanh có khuynh hướng đầu tư kinh doanh vào những mặt hàng mới, những lĩnh vực mới mà rủi ro ở đó thường cao bởi họ hy vọng thu được lợi nhuận trong tương lai. Mặt khác, nó giảm được áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh hiện tại.