Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) của nghiên cứu sinh Hoàng Sĩ Ngọc, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Ánh tại Trường Đại học Trà Vinh (năm 2022), tập trung khảo sát đề tài: Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng người Khmer Nam Bộ chiếm khoảng 8% dân số trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đứng thứ 5 trong tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam. Kể từ thời điểm du nhập từ văn hóa Ấn Độ cổ đại, linh vật Rắn thần Naga đã tồn tại xuyên suốt tiến trình lịch sử, trở thành biểu tượng vật tổ và in đậm dấu ấn trong đời sống văn hóa vật thể cũng như phi vật thể của cộng đồng cư dân này. Tuy nhiên, trước bối cảnh giao lưu và hỗn dung văn hóa diễn ra mạnh mẽ giữa các cộng đồng Việt - Khmer - Hoa - Chăm tại Nam Bộ, nhiều yếu tố văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ biến đổi hoặc mai một. Đáng chú ý là hiện tượng "Rồng hóa" của hình tượng Rắn thần Naga tại một số cơ sở thờ tự (như việc xuất hiện trên điêu khắc tại chùa Tây An - An Giang hay các bích họa trên cột chính điện vốn là đặc trưng của chùa Phật giáo Bắc tông). Ngay trong nội bộ cộng đồng người Khmer, sự phân định giữa Thần Rắn Naga và Thần Rồng (Neak Crit) tại một số nơi vẫn còn thiếu sự thống nhất; đồng thời một số tập tục, nghi lễ truyền thống gắn liền với Naga (như tục nhuộm răng cô dâu trong đám cưới, phong tục con trai đi tu báo hiếu) đang có xu hướng suy giảm. Mặt khác, các nghiên cứu trước đây về Naga chủ yếu dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ hoặc khảo sát từng khía cạnh riêng biệt trong nghệ thuật tạo hình Phật giáo mà chưa có một công trình chuyên khảo nào tiếp cận toàn diện, có hệ thống biểu tượng này dưới góc nhìn văn hóa học.

Mục tiêu tổng quát của luận án là tìm hiểu những ý nghĩa, đặc trưng, giá trị thông qua những biểu hiện của Rắn thần Naga trong nhiều lĩnh vực văn hóa người Khmer Nam Bộ nhằm góp phần làm rõ những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng tộc người này. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác lập cơ sở lý luận, các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
  2. Hệ thống hóa các dạng thức tồn tại và sức ảnh hưởng của Rắn thần Naga trong đời sống văn hóa của người Khmer Nam Bộ trên cả phương diện văn hóa phi vật thể và vật thể (tôn giáo, phong tục, tập quán, lễ hội, kiến trúc, hội họa, trang phục, nghệ thuật biểu diễn, văn học dân gian).
  3. Giải mã những ý nghĩa mà Rắn thần Naga truyền tải thông qua các biểu hiện cụ thể trong đời sống văn hóa Khmer Nam Bộ.
  4. Khảo sát, hệ thống hóa những đặc trưng, giá trị của Rắn thần Naga trong văn hóa người Khmer Nam Bộ.
  5. So sánh nét tương đồng và dị biệt giữa Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ với tín ngưỡng thờ rắn, rồng của một số tộc người khác.
  6. Đưa ra một số ý kiến bình luận nhằm phục vụ công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tộc người Khmer Nam Bộ từ biểu tượng Rắn thần Naga.

Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu được đánh số cụ thể như sau:

  1. Tại sao người Khmer chọn Rắn thần Naga làm linh vật tiêu biểu trong văn hóa dân tộc mình dù rằng tục thờ rắn thần rất có thể đã phổ biến từ trước thời gian giao lưu với văn hóa Ấn Độ?
  2. Rắn thần Naga biểu hiện cụ thể qua những lĩnh vực văn hóa nào trong văn hóa Khmer Nam Bộ?
  3. Rắn thần Naga có những ý nghĩa gì trong văn hóa Khmer Nam Bộ?
  4. Rắn thần Naga có đặc trưng, giá trị gì trong văn hóa Khmer Nam Bộ và có biến đổi gì trong bối cảnh hiện nay?
  5. Những biểu hiện, đặc trưng, giá trị của Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ có những điểm nào tương đồng hay khác biệt so với tín ngưỡng thờ Rắn, Rồng của người Việt, người Hoa, người Chăm ở Việt Nam?

Tương ứng với các câu hỏi trên, 5 giả thuyết nghiên cứu được tác giả xây dựng gồm:

  1. Rắn thần Naga trong văn hóa người Khmer Nam Bộ là linh vật được du nhập từ Ấn Độ qua quá trình lịch sử lâu dài, nay là linh vật được người Khmer vô cùng sùng kính.
  2. Rắn thần Naga có nhiều biểu hiện cụ thể mang tính đặc thù qua các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể trong văn hóa người Khmer Nam Bộ.
  3. Rắn thần Naga là linh vật biểu tượng cho quyền năng vô hạn; biểu tượng cho sự thịnh vượng, may mắn; biểu tượng cho sự liên kết giữa cõi trần gian - cõi Niết bàn.
  4. Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ qua giao lưu, tiếp biến có một số đặc điểm riêng; có nhiều giá trị, góp phần bảo tồn văn hóa tộc người Khmer Nam Bộ. Rắn thần Naga đã có nhiều biến đổi về đặc trưng, cách thể hiện, giá trị so với các yếu tố văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện nay.
  5. Ngoài những nét tương đồng về một số đặc điểm, biểu hiện, mà đặc biệt là giá trị biểu trưng về nước của Rắn thần Naga so với Rắn thần, Rồng của người Việt, người Hoa, người Chăm thì Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ cũng mang nhiều nét dị biệt tạo nên bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ như: về nguồn gốc, một số biểu hiện trong các lĩnh vực văn hóa, về tôn giáo.

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là Rắn thần Naga trong văn hóa người Khmer Nam Bộ, có mở rộng đối sánh với hình tượng rắn, naga, rồng trong văn hóa người Việt và một số quốc gia khác. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào vùng văn hóa Tây Nam Bộ, trọng tâm điền dã khảo sát sâu tại 4 tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống nhất là Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang và Kiên Giang. Thời gian nghiên cứu thực địa được tiến hành trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án được tác giả phân chia thành các nhóm nội dung rõ rệt:

Thứ nhất là các công trình về lý thuyết biểu tượng trên thế giới và ở Việt Nam. Luận án điểm lại các học giả kinh điển như Emile Durkheim, Max Weber, Bronislaw Malinowski, Claude Lévi-Strauss, Roland Barthes, Ferdinand de Saussure. Các công trình tiêu biểu được trích dẫn gồm: Leslie A. White với The Science of Culture: A study of man and civilization (1949); Victor Turner với The Forest of Symbols: Aspects of Ndembu (1967); Raymond Firth với Symbols public and private (1973); cùng các nghiên cứu của Clifford Geertz, David Schneider, Mary Douglas. Tại Việt Nam, nghiên cứu biểu tượng gắn liền với các công trình của Nguyễn Văn Hậu, Vũ Thị Phương Anh, Phan Ngọc Chiến, Hoàng Trọng, Mai Văn Hai, và đặc biệt là luận án Ngôn ngữ biểu tượng trong đời sống văn hóa của người Cơtu (2011) cùng các chuyên khảo của Đinh Hồng Hải.

Thứ hai là các công trình nghiên cứu về rắn, naga, rồng tại các khu vực văn hóa:

  • Tại Ấn Độ: Văn bản cổ Vệ đà ghi nhận ác thần Azhi và rắn quái vật Vritra giữ nước bị thần Indra tiêu diệt; tục sùng bái rắn của bộ lạc Vadi và cư dân bản địa Dravida; công trình Địa đàng ở phương Đông của Stephen Oppenheimer; khảo cứu Văn hóa Ấn Độ của Nguyễn Tấn Đắc; bài viết của Ngô Minh Trung và Ngô Minh Đức về ý nghĩa biểu tượng rắn Naga; bài viết của Ngô Văn Doanh về con rắn trong lịch sử các dân tộc trên thế giới.
  • Tại Trung Hoa và Đông Bắc Á: Tục thờ rắn gắn với thủy tổ Phục Hy - Nữ Oa; truyền thuyết Lưu Bang chém rắn trắng khởi nghĩa; huyền thoại vua Vũ trị thủy đánh rắn chín đầu Xiangyao; truyền thuyết Bạch Xà thời Bắc Tống; các tài liệu của ChengYuZhen về quá trình từ nguyên mẫu rắn phát triển thành linh vật rồng; truyện cổ Nhật Bản về quái vật rắn tám đầu tám đuôi Yamata no Orochi.
  • Tại Đông Nam Á: Sách Lịch sử Campuchia ghi nhận huyền thoại lập quốc gắn với rắn chín đầu Naga; khảo cứu của Phan Anh Tú về rắn Nak và đền Wat Phu Manorom tại Thái Lan; truyền thuyết chúa Cóc Phaya Khăn Khác trong lễ hội Bun Băng Fai tại Lào; khảo cứu của Trương Sĩ Hùng về huyền thoại rắn nguyên thủy của người Toaja tại Indonesia; công trình của Jean Chevalier trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới.
  • Về rắn và rồng của người Việt: Tác giả Nguyễn Duy Hinh trong Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam (1996) phân tích thần rắn Linh Lang tại đền Voi Phục; Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) nêu quan niệm dân gian "Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng"; luận án của Nguyễn Thị Việt Hương (2006) về lễ hội cầu nước - trấn thủy ở Hà Nội; Tạ Chí Đại Trường trong Thần, người và đất Việt (2006); khảo cứu 25 bản kể truyện Ông Dài ông Cộc của Lê Thị Ngọc Dung; nghiên cứu của Trần Đức Anh Sơn về rồng thời Nguyễn; Trần Văn Sáng (2013) khảo sát biểu tượng rắn từ ngôn ngữ đến văn hóa; Trần Trọng Dương khảo cứu rồng thời Lý - Trần và hình tượng Thanh Long; các bài viết của Nguyễn Bích Hà, Nguyễn Hải Hậu, Nguyễn Thị Tuyết.

Thứ ba là các công trình trực tiếp khảo sát Rắn thần Naga của người Khmer Nam Bộ: Bài viết của Phan Anh Tú về truyền thuyết rắn Naga; bài viết của Hứa Sa Ny về hình tượng rồng (Neak) phân chia theo số lượng 1, 3, 5, 7, 9 đầu; các nghiên cứu của Thạch Nam Phương về định danh, định tính, định hình biểu tượng Neak trong chùa Khmer Nam Bộ; bài viết của Trần Minh Thương về hình tượng con rắn trong văn hóa dân gian Tây Nam Bộ; khảo cứu của Thạch Đờ Ni về biểu tượng rắn Naga trong chùa Khmer.

Thứ tư là các công trình so sánh loại hình: Phạm Thị Thủy Chung và Đinh Hồng Hải nghiên cứu biểu tượng Naga từ Ấn Độ ảnh hưởng đến Đông Nam Á và Việt Nam; Trần Ngọc Thêm và Nguyễn Ngọc Thơ phân tích nguồn gốc con rồng từ nguyên mẫu rắn; Phan Anh Tú khảo sát mối quan hệ giữa thần Vishnu, Shiva với tín ngưỡng bản địa và rắn nước; Trần Minh Hường so sánh biến thể rắn của người Kinh, thuồng luồng của người Thái, khú của người Mường với Naga, Chằn của người Khmer; Lâm Biền và Thế Hùng nghiên cứu quá trình hỗn dung giữa rồng, Naga và Makara; Bùi Thị Thanh Mai so sánh rồng Việt Nam và Trung Hoa; Phạm Mạnh Hùng so sánh biểu tượng rắn ở các nước phương Đông; cùng các bài báo khoa học đã công bố của chính tác giả Hoàng Sĩ Ngọc từ năm 2018 đến 2020.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều bài viết đề cập đến rắn Naga, song phần lớn mới dừng lại ở việc miêu tả mỹ thuật tạo hình hoặc điểm qua các tích truyện tôn giáo riêng lẻ. Luận án của Hoàng Sĩ Ngọc là công trình đầu tiên khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống về Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ từ nguồn gốc, các dạng thức tồn tại trong văn hóa vật thể và phi vật thể, đến việc phân tích các đặc trưng, ý nghĩa, giá trị văn hóa và sự biến đổi của biểu tượng này trong bối cảnh xã hội đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hai khung lý thuyết nền tảng của nhân học và văn hóa học:

  • Lý thuyết biểu tượng văn hóa: Dựa trên quan niệm của các nhà nghiên cứu biểu tượng (như Victor Turner, Clifford Geertz, Đinh Hồng Hải), biểu tượng được xác định là một tín hiệu hai mặt gồm cái biểu thị (dạng thức vật chất, hình ảnh tượng trưng) và cái được biểu thị (nội dung ý niệm, giá trị tinh thần). Luận án kế thừa cách phân loại chức năng của biểu tượng trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới gồm 6 chức năng cơ bản: chức năng khám phá, chức năng thay thế, chức năng siêu nghiệm, chức năng giao tiếp, chức năng liên kết và chức năng giáo dục. Biểu tượng văn hóa mang tính lịch đại, vận động và chuyển hóa ý nghĩa theo môi trường văn hóa xã hội.
  • Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa: Khung phân tích này được vận dụng để lý giải quá trình Rắn thần Naga từ nguồn gốc văn hóa Ấn Độ du nhập vào Nam Bộ, trải qua quá trình tiếp xúc, cộng cư và dung hợp với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên bản địa của người Khmer, cũng như sự tương tác với văn hóa của người Việt, người Hoa và người Chăm trong vùng.

Hệ thống khái niệm công cụ được tác giả định nghĩa và làm rõ gồm: khái niệm "văn hóa" (tổng hợp quan điểm của E.B. Tylor, F. Boas, C. Kluckhohn, L.Iô Nhin, Cao Xuân Phổ, Trần Ngọc Thêm); khái niệm "hình tượng" (theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê); khái niệm "biểu tượng" (theo quan niệm của Lotman, Phạm Đức Dương, Đinh Hồng Hải, Nguyễn Văn Hậu); và khái niệm "Rắn thần Naga" trong tiếng Phạn cổ (Sanskrit), trong thần thoại Balamôn giáo, Phật giáo và tâm thức người Khmer.

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp định tính kết hợp liên ngành:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả tiến hành quan sát trực tiếp, chụp ảnh hiện vật kiến trúc, nghi lễ và phỏng vấn sâu qua 2 đợt điền dã tại 4 tỉnh trọng điểm (Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang). Tổng cộng có 55 người được phỏng vấn sâu, bao gồm các vị sư sãi trụ trì, người tu học trong chùa Phật giáo Nam tông, các vị Achar (Kru Achar), cán bộ văn hóa cơ sở, giáo viên và giảng viên đại học trong vùng.
  • Phương pháp so sánh loại hình: Được sử dụng để đối chiếu hình tượng Rắn thần Naga của người Khmer Nam Bộ với rắn Naga ở Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào và hình tượng rắn, rồng của người Việt, người Hoa nhằm làm rõ tính phổ quát và dấu ấn bản địa hóa.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành và hệ thống: Kết hợp tri thức của văn hóa dân gian, dân tộc học, lịch sử, địa lý, khảo cổ học, mỹ thuật tạo hình và văn học dân gian để phân tích biểu tượng từ chỉnh thể đến từng bộ phận cấu thành.

Nguồn dữ liệu thống kê dân số Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long được tác giả trích dẫn từ số liệu của Vụ địa phương III - Ủy ban Dân tộc (tính đến ngày 30/4/2011), với tổng số khoảng 1,3 triệu người, phân bố cụ thể tại các địa phương như sau:

Tỉnh / Thành phố Dân số người Khmer (người)
Sóc Trăng ~ 400.000
Trà Vinh ~ 320.000
Kiên Giang ~ 204.000
An Giang ~ 85.000
Bạc Liêu ~ 65.000
Cần Thơ ~ 39.000
Cà Mau ~ 24.000
Vĩnh Long ~ 21.000

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương này dành phần lớn dung lượng để hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến lý thuyết biểu tượng, tục thờ rắn, rồng, naga tại Ấn Độ, Trung Hoa, Đông Nam Á và của người Việt, người Khmer Nam Bộ. Tác giả chỉ ra các điểm thành công của người đi trước và xác định rõ khoảng trống khoa học cần giải quyết.

Về cơ sở lý luận, chương 1 chuẩn hóa các định nghĩa về văn hóa, hình tượng nghệ thuật và biểu tượng văn hóa. Tác giả luận giải cơ chế chuyển hóa từ hình ảnh con rắn tự nhiên sang hình tượng nghệ thuật và nâng lên thành biểu tượng tâm linh Naga mang tính biểu hình và biểu ý. Tác giả khảo lược nguồn gốc Naga trong văn hóa Ấn Độ cổ đại qua các di chỉ Mohenjo Daro và Harappa (3000 năm TCN), phân tích vai trò của Naga trong sử thi Mahabharata, trong các huyền thoại Hindu giáo (rắn Shesha, Vasuki gắn với thần Vishnu, thần Shiva) và Phật giáo Ấn Độ. Tiếp đó, tác giả khảo sát hình tượng Naga tại các quốc gia Đông Nam Á như Campuchia (rắn chín đầu trong truyền thuyết lập quốc), Thái Lan (rắn Nak, biểu tượng đôi rắn vàng và rắn trắng tượng trưng cho đất và nước), Lào (chúa Cóc Phaya Khăn Khác điều khiển rết và rắn Naga trong hội cầu mưa Bun Băng Fai), và cộng đồng người sắc tộc Naga cư trú ở lưu vực sông Chindwin tại Myanmar.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả phác họa môi trường tự nhiên - xã hội của không gian văn hóa Nam Bộ và tiến trình lịch sử, phân bố dân cư, đời sống văn hóa của cộng đồng người Khmer trên vùng đất Tây Nam Bộ.

Chương 2: Thể hiện của Rắn thần Naga trong các bình diện văn hóa Khmer Nam Bộ

Chương 2 khảo sát thực địa toàn diện các dạng thức tồn tại của Rắn thần Naga qua hai nhánh văn hóa phi vật thể và vật thể:

Trong văn hóa phi vật thể:

  • Trong tôn giáo: Phân tích sự tồn lưu của tín ngưỡng Balamôn giáo thông qua các mô típ tạo hình cổ như Mko nuốt hoặc nhả Naga (khảo sát tại Trà Cú, Trà Vinh), mô típ chim thần Garuda quắp rắn Naga (chùa Điệp Thạch, TP. Trà Vinh), mô típ khỉ Hanuman nắm đuôi Rắn thần Naga (chùa Xà Tón, An Giang). Trong Phật giáo Nam tông, Naga xuất hiện với vai trò linh vật hộ trì chánh pháp, tiêu biểu là tích Phật thoại rắn thần Mucalinda cuộn tròn thân làm đệm và xòe 7 đầu làm lọng che mưa gió bão bùng cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập định (tượng tại chùa Monivonsa Bopharam, Cà Mau).
  • Trong phong tục, tập quán, lễ hội:
    • Lễ cưới: Nghi thức chú rể cầm vạt áo cô dâu để được dẫn vào phòng tân hôn (khảo sát tại đám cưới thực tế ở Trà Vinh) bắt nguồn từ truyền thuyết hoàng tử Preah Thong nắm đuôi nàng công chúa Naga Neang Neak để đi xuống thủy phủ. Tục lệ nhuộm răng truyền thống của cô dâu cũng bắt nguồn từ sự tích làm gãy răng nanh độc của nàng rồng.
    • Lễ tang: Sử dụng lá cờ Tong Niek mang hình tượng Rắn thần Naga treo tại chùa (chùa Rô, Tịnh Biên, An Giang) và trước cổng nhà có tang để dẫn đường linh hồn người quá cố; xe tang chở thi hài đến nơi hỏa táng cũng được chạm khắc hình rắn Naga (chùa Âng, Trà Vinh).
    • Phong tục đi tu: Người con trai Khmer trước khi chính thức thụ giới tỳ kheo phải trải qua giai đoạn làm lễ xuất gia gọi là "lễ cạo đầu làm Neak" (làm Naga), tái hiện lại tích rồng Naga biến thành người để xin Đức Phật xuất gia tu học.
    • Hội đua ghe ngo: Chiếc ghe ngo truyền thống được chế tác mang dáng dấp thân mình của một con rắn Naga dài lướt trên mặt nước, đại diện cho sức mạnh của thủy thần.
    • Phong tục xây dựng nhà ở: Xem hướng nằm của rắn Naga theo từng mùa trong năm để đào móng, đặt cột cái nhằm tránh chạm vào đầu hay bụng rắn, cầu bình an cho gia chủ.
  • Trong nghệ thuật biểu diễn và văn học dân gian: Naga xuất hiện trong các điệu múa truyền thống, sân khấu kịch hát Dù-kê, Rô-băm; đồng thời hiện diện dày đặc trong truyện cổ tích, truyền thuyết lập quốc và các bài tụng ca dân gian Khmer.

Trong văn hóa vật thể:

  • Trong kiến trúc Chùa Phật giáo Nam tông: Tác giả khảo sát chi tiết cấu tạo hình tượng Naga (từ dạng nguyên mẫu 1 đầu đến các dạng cách điệu 3, 5, 7 và 9 đầu). Chất liệu tạo hình rất đa dạng: gỗ điêu khắc (hiện vật tại Bảo tàng Văn hóa Khmer Ao Bà Om, Trà Vinh), xi-măng đúc khuôn (chùa Woph Pat, Sóc Trăng), đồng và đá (chợ Trà Vinh). Thể loại thể hiện bao gồm tượng tròn, phù điêu đắp nổi, chạm trổ trên gỗ và bích họa. Không gian bài trí của Naga bao quát toàn bộ ngôi chùa: trên mí vòm cổng chùa (chùa Thôn Dôn, Kiên Giang; chùa Sombua Rangsay, Trà Vinh), trên tường rào bao quanh (chùa Phom Phenh, Trà Vinh; chùa Bãi Xàu, Sóc Trăng), trên cầu thang dẫn lên chính điện, trên mí cửa sổ (chùa Sài Kon, Vĩnh Châu, Sóc Trăng), trên các bờ góc nóc mái chùa uốn lượn (chùa Tà Pạ, An Giang), quanh cột cờ trong sân chùa và trang trí khuôn viên sân chùa.
  • Trong trang phục: Hoa văn Naga được thêu dệt, cách điệu trên trang phục cưới truyền thống và các y phục biểu diễn nghệ thuật của đồng bào Khmer.

Chương 3: Đặc trưng, giá trị và ý nghĩa của Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ

Chương 3 tổng hợp và nâng tầm lý thuyết các kết quả khảo sát thực địa:

Về đặc trưng:

  • Gắn với yếu tố nước: Đây là đặc trưng bản chất bắt nguồn từ môi trường địa lý tự nhiên của vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long và phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước. Naga là hiện thân của nguồn nước tưới tiêu, thần mưa và sự phì nhiêu của đất đai.
  • Tính phổ quát: Biểu tượng Naga có mặt ở khắp mọi nơi, từ không gian thiêng liêng nơi chùa chiền đến đời sống sinh hoạt gia đình, lễ hội và phong tục vòng đời của mỗi người Khmer.
  • Dấu ấn bản địa hóa: Người Khmer không sao chép nguyên mẫu Naga của Ấn Độ mà đã biến đổi, kết hợp với tín ngưỡng thờ rắn nước bản địa. Chương này phân tích quá trình "Rồng hóa" dưới tác động giao lưu với văn hóa người Việt và người Hoa (đối sánh với hình tượng rồng thời Lý, rồng Champa, hình rồng trên cột bích họa chùa Khleng và điện thờ Bà Đen ở chùa Dơi, Sóc Trăng).

Về ý nghĩa:

  • Biểu tượng cho quyền năng vô hạn: Khả năng chế ngự các thế lực tự nhiên hung dữ, xua đuổi tà ma và bảo vệ tôn giáo.
  • Biểu tượng cho sự thịnh vượng, bình an, may mắn: Đem lại mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa và cuộc sống an lành.
  • Biểu tượng cho sự liên kết Trời - Đất, cõi trần gian - cõi Niết bàn: Chiếc cầu vồng Naga bắc qua ranh giới trần tục và thế giới thần linh, đưa đường dẫn lối cho các linh hồn thiện lương và tín đồ Phật giáo hướng thiện.

Về giá trị:

  • Giá trị lịch sử: Minh chứng cho quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Ấn Độ và lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ.
  • Giá trị thẩm mỹ: Đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình, điêu khắc, hội họa truyền thống Khmer.
  • Giá trị giáo dục: Răn dạy con người tu tâm tích đức, từ bỏ bản tính hung dữ để quy phục chánh pháp như tích Rắn thần quy y cửa Phật.
  • Giá trị liên kết cộng đồng: Thể hiện rõ nét qua lễ hội đua ghe ngo và các nghi lễ sinh hoạt tập thể tại ngôi chùa Khmer.

Chương này cũng phân tích thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị Naga gắn với hoạt động du lịch văn hóa tại các ngôi chùa nổi tiếng (chùa Âng, chùa Tà Pạ, chùa Xà Tón, chùa Dơi, chùa Chén Kiểu) và việc sáng tạo các sản phẩm văn hóa lưu niệm (như mô hình ghe ngo thu nhỏ của nghệ nhân Thạch Huỳnh Thươn).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học và lý luận, luận án đạt được các kết quả cụ thể:

  • Tập hợp và hệ thống hóa được một nguồn tư liệu toàn diện, có độ tin cậy cao về Rắn thần Naga trong văn hóa Ấn Độ, Đông Nam Á, Việt Nam và đặc biệt là văn hóa Khmer Nam Bộ.
  • Nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về Rắn thần Naga trong tâm thức, quan niệm thẩm mỹ và phương thức biểu hiện trong văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ trên cả hai phương diện vật thể và phi vật thể.
  • Chỉ ra các đặc điểm mang tính riêng biệt của Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ thông qua phương pháp so sánh loại hình với hình tượng rắn Naga ở Ấn Độ, các quốc gia Đông Nam Á và hình tượng rồng của người Việt, người Hoa.
  • Khẳng định các giá trị của Rắn thần Naga là mẫu số chung tạo nên bản sắc tộc người Khmer Nam Bộ, đóng góp vào bức tranh đa dạng văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Về mặt thực tiễn và ứng dụng, luận án đề xuất các nội dung:

  • Cung cấp các cứ liệu thực địa khoa học hỗ trợ công tác bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ trước nguy cơ mai một và lai tạp.
  • Đóng góp các ý kiến bình luận khoa học nhằm định hướng bảo tồn biểu tượng Naga, phân định rõ ràng giữa biểu tượng Rắn thần Naga và rồng (Neak Crit), chấn chỉnh các biểu hiện pha tạp không phù hợp trong kiến trúc tôn giáo.
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý văn hóa trong việc xây dựng chính sách phát triển văn hóa phù hợp với thực tiễn vùng Nam Bộ, kết hợp phát triển du lịch văn hóa bền vững gắn với các thiết chế chùa chiền và lễ hội truyền thống Khmer.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án cho thấy quá trình khảo sát thực địa bị giới hạn về thời gian trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021. Mặc dù địa bàn cư trú của đồng bào Khmer trải rộng khắp các tỉnh thành Tây Nam Bộ và một số tỉnh Đông Nam Bộ, luận án chỉ tập trung điền dã chuyên sâu tại 4 tỉnh trọng điểm (Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang). Nguồn tư liệu khảo sát chủ yếu được thu thập tại không gian chùa Phật giáo Nam tông và một số nghi lễ cộng đồng tiêu biểu, số lượng người được phỏng vấn sâu dừng lại ở con số 55 người.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, tác giả gợi mở việc mở rộng địa bàn khảo sát đến các địa phương có mật độ người Khmer ít hơn hoặc các vùng đô thị đa tộc người; tiếp tục theo dõi biến đổi của biểu tượng Naga dưới tác động mạnh mẽ của công nghệ số, hiện đại hóa và thương mại hóa du lịch; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về sự tiếp nhận biểu tượng Naga trong đời sống của thế hệ trẻ người Khmer hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Tôn giáo học, Lịch sử nghệ thuật, Mỹ thuật truyền thống và Đông Nam Á học. Phần tổng quan tài liệu và hệ thống lý thuyết biểu tượng ở Chương 1 là nguồn tài liệu tham khảo tốt về phương pháp luận nghiên cứu biểu tượng văn hóa.
  • Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo thuộc Ban Dân tộc và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh khu vực Tây Nam Bộ. Phần khảo sát thực địa ở Chương 2 và các phân tích về giá trị, bảo tồn ở Chương 3 cung cấp luận cứ cụ thể để xây dựng hồ sơ di sản văn hóa, định hướng trùng tu di tích chùa Khmer và quy hoạch du lịch văn hóa.
  • Các nhà nghiên cứu mỹ thuật, kiến trúc sư quan tâm đến nguyên lý tạo hình, chất liệu, hoa văn và không gian sắp đặt của linh vật truyền thống trong kiến trúc đền chùa Phật giáo Nam tông.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao người Khmer Nam Bộ lại coi Rắn thần Naga là biểu tượng gắn liền với nguồn nước?
Trả lời: Xuất phát từ môi trường tự nhiên của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long và nền văn minh nông nghiệp lúa nước, nguồn nước quyết định trực tiếp đến mùa màng và sự sinh tồn của cư dân. Trong tâm thức dân gian kết hợp với thần thoại Ấn Độ du nhập, Rắn thần Naga là vị thần cai quản nguồn nước, các con sông, đầm hồ và mang mưa đến tưới tiêu cho đồng ruộng, do đó nước trở thành đặc trưng bản chất nhất của biểu tượng này.

2. Nghi thức chú rể nắm vạt áo cô dâu trong đám cưới Khmer Nam Bộ có nguồn gốc từ đâu?
Trả lời: Nghi thức này bắt nguồn trực tiếp từ truyền thuyết lập quốc của người Khmer về cuộc hôn nhân giữa chàng hoàng tử người Balamon là Preah Thong và nàng công chúa Rắn Neang Neak. Trong tích truyện, chú rể Preah Thong đã nắm vạt áo (hoặc đuôi) của công chúa Neang Neak để được nàng dẫn lối rẽ nước đi xuống thủy cung diện kiến Vua Rắn Naga.

3. Hiện tượng "Rồng hóa" của Rắn thần Naga trong văn hóa Khmer Nam Bộ thể hiện như thế nào?
Trả lời: Dưới tác động giao lưu văn hóa lâu đời với người Việt và người Hoa, hình tượng Naga vốn dĩ mang thân rắn nguyên mẫu đã xuất hiện các chi tiết pha tạp của linh vật rồng phương Đông như sừng, vảy cá, râu rồng, chân có móng vuốt. Điển hình là việc xuất hiện các bức bích họa rồng cuộn trên cột chính điện tại chùa Khleng, chùa Dơi (Sóc Trăng) hoặc điêu khắc rồng tại chùa Tây An (An Giang), dẫn đến sự lúng túng trong nhận thức của một bộ phận cư dân khi phân biệt giữa Thần Rắn Naga và Thần Rồng (Neak Crit).

4. Khảo sát thực địa của luận án được tiến hành tại những địa phương nào và có bao nhiêu người tham gia phỏng vấn sâu?
Trả lời: Tác giả đã tiến hành 2 đợt điền dã thực tế tại 4 tỉnh có mật độ người Khmer đông nhất gồm Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang và An Giang. Trong quá trình điền dã, tác giả đã gặp gỡ và thực hiện phỏng vấn sâu tổng cộng 55 người, bao gồm các vị sư sãi trụ trì, người tu trong chùa, các vị Kru Achar, cán bộ văn hóa cơ sở và một số giáo viên, giảng viên.

5. Trong khuôn viên chùa Phật giáo Nam tông Khmer, Rắn thần Naga thường được bài trí tại những vị trí nào?
Trả lời: Rắn thần Naga xuất hiện ở hầu khắp các vị trí trọng yếu của ngôi chùa: uốn lượn trên mí vòm cổng chùa, chạy dọc trên tường rào bao quanh khuôn viên, làm tay vịn trải dài ở hai bên cầu thang dẫn lên chính điện, trang trí trên các mí vòm cửa sổ, ngự trên các bờ góc nóc mái chùa, uốn quanh chân cột cờ và trang trí trên các bệ tượng ngoài sân chùa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hoàng Sĩ Ngọc là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải mã toàn diện biểu tượng Rắn thần Naga trong không gian văn hóa Khmer Nam Bộ từ giác độ văn hóa học. Bằng việc kết hợp lý thuyết biểu tượng với phương pháp điền dã dân tộc học và so sánh loại hình, tác giả đã làm rõ các dạng thức biểu hiện vật thể và phi vật thể của Naga từ nguồn gốc Ấn Độ đến quá trình bản địa hóa sâu sắc tại Tây Nam Bộ. Luận án khẳng định Rắn thần Naga là biểu tượng cốt lõi chứa đựng các giá trị lịch sử, thẩm mỹ, giáo dục và liên kết cộng đồng bền chặt của người Khmer. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa tộc người và định hướng phát triển du lịch bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.