chương 1,2. - Cách tiếp cận Xã hội học Tôn giáo: Luận văn sử dụng nguồn điều tra Xã Hội học, cụ thể là điều tra 100 phiếu hỏi để có dữ liệu định lượng nhằm phân tích, chứng minh các vấn đề được nêu ra ở chương 3. Lý thuyết nghiên cứu Trong quá trình viết luận văn này chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo để thấy rõ một thực thể tôn giáo: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng lý thuyết cấu trúc chức năng để nghiên cứu về chức năng nghi thức, lễ hội tôn giáo đối với cá nhân và cộng đồng người Khmer ở Bình Phước.
Trong đó: - Lý thuyết thực thể tôn giáo: cần xem tôn giáo như một thực thể để giúp nhận thức tôn giáo tồn tại lâu dài với một cấu trúc có các cấu phần theo hệ thống. Điều này đã được Emile Durkheim trình bày trong Translated and with an Introduction by Karen E.Fields, năm 1995 trang 44, cho rằng “tôn giáo là một hệ thống thống nhất của các niềm tin và thực hành liên quan đến các đối tượng thiêng, đó là những đối tượng được tách ra và được cấm đoán – những niềm tin và thực hành này được thống nhất trong một cộng đồng luân lý duy nhất được gọi là Giáo hội mà tất cả những người thuộc về cộng đồng đó đều tuân thủ”. Cách nhìn nhận này sẽ khắc phục được những hạn chế của cách tiếp cận xem tôn giáo như một hình thái ý thức, vì tôn giáo đã được xem như một cộng đồng với các yếu 17 tố cấu thành như niềm tin, thực hành liên quan tới cái thiêng và sự ràng buộc về mặt luân lý, cũng như sự tập trung trong một tổ chức (được gọi là giáo hội). Tư tưởng xem tôn giáo như một thực thể xã hội tiếp tục được các nhà xã hội học Pháp phát triển và tư tưởng này đã được các nhà nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam tiếp thu và truyền bá.
Vận dụng lý thuyết này vào trong nghiên cứu sẽ tạo dựng được khung nhận thức để mổ xẻ những biến đổi của Công giáo theo cấu trúc tôn giáo. Đó là những biến đổi về niềm tin, thực hành và cộng đồng, mà cốt lõi là những biến đổi về niềm tin. - Lý thuyết cấu trúc chức năng: Theo điểm của Parsons, tôn giáo được nhìn nhận như một thực thể trong một hệ thống chỉnh thể của toàn bộ xã hội, có các chức năng tự thân và có cả các tác động, vai trò đối với các thành tố khác của xã hội. Cách nhìn nhận này đem tới cách tiếp cận khác với cách tiếp cận bản thể luận về tôn giáo.
Parsons cho rằng, hệ thống xã hội được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống (hệ thống nhỏ hơn), tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội. Bốn loại yêu cầu chức năng của xã hội gồm: Một là: Thích ứng (Adaptation - ký hiệu là A) với môi trường tự nhiên-vật lý xung quanh. Hai là: Hướng đích (Goal Attainment - G) - huy động các nguồn lực nhằm vào các mục đích đã xác định. Ba là: Liên kết (Integration - I) - phối hợp các hoạt động, điều hoà và giải quyết những khác biệt, mâu thuẫn.
Bốn là: Duy trì khuôn mẫu lặn (Latent-Pattern Maintenance - L) - tạo ra sự ổn định, trật tự. Vận dụng thuyết cấu trúc chức năng này nhằm phân tích tôn giáo theo 4 chức năng mà Parsons đã hệ thống để giải quyết vấn đề tôn giáo giúp ích gì cho xã hội. Cơ sở thực tiễn 1. Tổng quan về tỉnh Bình Phước hiện nay 1.
Điều kiện tự nhiên Bình Phước là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, có đường biên giới tiếp giáp với Vương quốc Campuchia dài 260,433km. Là địa bàn trung chuyển giữa miền Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, nên tỉnh có địa hình rất đa dạng, gồm cả địa hình cao nguyên, đồi núi và đồng bằng. Đây là nơi cư trú của nhiều dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn, đa số là người STiêng, một số ít là người Hoa, Khmer, Nùng, Tày. So với các vùng khác trên cả nước, Bình Phước được xem là một vùng đất trẻ.
Nơi đây chỉ thực sự được coi là “thức tỉnh” kể từ khi thực dân Pháp đánh chiếm lục tỉnh Nam Kỳ (trong đó có vùng đất Bình Phước), thiết lập ách cai trị, xây dựng đồn điền cao su, thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa. Trước sự đàn áp, bóc lột và cai trị hà khắc của thực dân Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ, cư dân trên vùng đất Bình Phước không ngừng nổi dậy đấu tranh đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Người trước ngã, người sau nối bước, không sợ hy sinh, gian khổ, quân và dân Bình Phước đã ghi vào sử sách những dấu son chói lọi cùng với các địa danh không thể nào quên như Phú Riềng Đỏ, Căn cứ Tà Thiết, sóc Bom Bo. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975), Bình Phước bước vào thời kỳ mới khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng quê hương, cùng cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trải qua nhiều lần tách, nhập về hành chính, đến ngày 1-1-1997, tỉnh Bình Phước được tái lập và đi vào hoạt động. Hiện nay, tỉnh Bình Phước có 11 huyện, thị với 3 thị xã là Đồng Xoài, Bình Long và Phước Long (riêng huyện Phú Riềng mới được thành lập theo Nghị quyết số 931/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 15- 5-2015). Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí không xa thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước - lại có cửa khẩu 19 thông thương với Campuchia, Bình Phước có rất nhiều cơ hội để phát triển thương mại, du lịch và xuất khẩu. Đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cao su, điều, cà phê, tiêu.
đã tạo nên tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế của Bình Phước. Hướng tập trung vào phát triển cây công nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả nông nghiệp và đem lại thành công cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Công nghiệp của tỉnh cũng đang từng bước phát triển với nhiều dự án lớn; hàng trăm doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển chung của tỉnh. Trải qua gần 20 năm xây dựng kể từ ngày tái lập tỉnh, từ xuất phát điểm rất thấp về kinh tế, Bình Phước ngày nay đang từng ngày đổi mới; cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện với hệ thống giao thông thông suốt, kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh chóng, hình thành những khu công nghiệp; văn hóa - giáo dục phát triển vượt bậc, cộng đồng các dân tộc đoàn kết cùng phát triển.
tạo nên một diện mạo xã hội mới. Tuy nhiên, là tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và là nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số có trình độ dân trí, kỹ thuật sản xuất còn thấp, nên mặc dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, Bình Phước vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình kinh tế - xã hội Theo Cổng thông tin điện tử của tỉnh Bình Phước [31]: tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 của tỉnh Bình Phước tiếp tục chuyển biến tích cực. Sản xuất nông nghiệp đã vượt qua khó khăn và duy trì sự phát triển; sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì nhịp độ tăng trưởng khá, cùng với sự phát triển doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng đi đôi với việc thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát và nhu cầu tiêu dùng, sức mua của xã hội; Giao thông vận tải đảm bảo nhu cầu vận chuyển hàng hoá và nhu cầu đi lại của nhân dân.
20 Năm 2018 là năm bản lề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và không ít những khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch đề ra theo nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh; đồng thời với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự đồng thuận của nhân dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhóm giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, giữ vững ổn định và phát triển kinh doanh… Do đó tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng, tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 7,63%; thu ngân sách tăng 9% so với dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường luôn được quan tâm, quốc phòng, an ninh được bảo đảm. Tuy vậy, kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2018 cho thấy, kinh tế - xã hội của tỉnh còn gặp phải những khó khăn như: mưa nhiều, lốc xoáy gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống nhân dân; giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh giảm so với cùng kỳ năm trước; tiến độ thi công một số công trình trọng điểm chậm; các doanh nghiệp còn khó khăn, nhất là doanh nghiệp chế biến điều; các hoạt động y tế triển khai còn chậm, chưa đẩy mạnh chuyển giao các kỹ thuật mới trong khám chữa bệnh. Trên cơ sở số liệu 11 tháng và ước tính tháng 12 năm 2018, Cục Thống kê sơ bộ phân tích đánh giá tình hình kinh tế xã hội năm 2018 trên một số lĩnh vực như sau [31]: - Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) (theo giá so sánh 2010) ước 42.067 tỷ đồng, tốc độ phát triển của GRDP tăng 7,63% so cùng kỳ năm trước.
- GRDP bình quân đầu người ước đạt 58,03 triệu đồng/người/năm, tăng 9,38% so với cùng kỳ năm 2017. - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện năm 2018 là 7.658 tỷ đồng, tăng 36,33% so với năm 2017. - Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 57.592 tấn, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm 2017. 21 - Ước tính cả năm 2018 tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 2.030 tỷ đồng, tăng 39,08% so với cùng kỳ năm trước.
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2018 ước tính thực hiện 34.289,6 tỷ đồng, tăng 16,59% so với cùng kỳ năm trước. - Cả năm giải quyết việc làm cho 38.790 lao động; Đào tạo nghề cho 10.594 lao động; tư vấn, giới thiệu nghề, việc làm cho 12.