Chương 1: Tổng quan về kinh tế vi mô Môi trường Môi trường vĩ mô vi mô Văn hóa – xã hội Kinh tế Khách hàng Nhà cung Công cấp chúng DOANH NGHIỆP Công nghệ Tự nhiên Đối thủ Trung gian cạnh tranh Chính trị - pháp luật Các lực lượng môi trường có thể được xem như là “không thể kiểm soát được”. Mặc dù, doanh nghiệp không thể kiểm soát được các lực lượng bên ngoài, nhưng họ có thể tác động đến chúng theo nhiều cách thức khác nhau. Chẳng hạn, các doanh nghiệp phát triển công nghệ vật liệu có thể ảnh hưởng đến nhiều công ty khác sử dụng nguyên liệu đầu vào. Sản phẩm và quảng cáo của các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến nhận thức và quan điểm về giá trị của cá nhân và xã hội.
Môi trường kinh doanh có thể tác động đến các doanh nghiệp theo chiều hướng khác nhau, cũng có thể là cơ hội hoặc là đe dọa. Chỉ những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mới chớp lấy cơ hội trong một khoảng thời gian nhất định. Một chiến lược phù hợp được thiết lập và thực hiện để không bỏ lỡ cơ hội và hạn chế các ảnh hưởng đe dọa. Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng qui trình thu thập thông tin từ môi trường bên ngoài như: khả năng cung ứng nguồn lực, qui định pháp luật, công nghệ mới có thể áp dụng, hay hành động của đối thủ cạnh tranh và những vấn đề khác có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Điều quan trọng đối với doanh nghiệp là dự báo các thay đổi về điều kiện môi trường, hoạch định thích hợp và thực hiện phản hồi chính xác. KINH TẾ HỌC QUẢN LÝ Kinh tế học quản lý trả lời các câu hỏi cơ bản như: khi nào thì một thị trường sản phẩm trở nên hấp hẫn và thu hút đầu tư mở rộng và gia nhập ngành? Khi nào thì một doanh nghiệp nên rút khỏi thị trường? Tại sao một số doanh nghiệp hoạt động tốt, trong khi một số khác thì không? Những nhà quản lý thành công là những nhà ra quyết định tốt trong các tình huống kinh doanh cụ thể và một trong những công cụ quan trọng nhất cho các nhà quản lý, đó chính là phương pháp luận kinh tế học quản lý. Kinh tế học quản lý Kinh tế học quản lý vận dụng lý thuyết và phương pháp kinh tế để điều hành và ra quyết định kinh doanh. Kinh tế học quản lý mô tả các qui tắc nhằm cải thiện khả năng ra quyết định quản lý và giúp cho các nhà quản lý nhận biết ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế đến tổ chức và hành vi ra quyết định trong quản lý.
Kinh tế học quản lý là sự liên kết giữa các khái niệm kinh tế với các phương pháp định lượng nhằm phát triển các công cụ ra quyết định quản lý. Tiến trình này được minh họa bằng biểu đồ dưới đây. 11 lOMoARcPSD|15547689 Chương 1: Tổng quan về kinh tế vi mô Vấn đề về quyết định quản lý - Lựa chọn sản phẩm, - Định giá, sản lượng, - Thiết kế tổ chức, - Phát triển sản phẩm - Thuê mướn và đào tạo, - Đầu tư và tài trợ. Các khái niệm kinh tế Các phương pháp định lượng - Phân tích biên, - Biểu đồ, phương trình toán - Lý thuyết cung cầu, - Dự báo thống kê, - Lý thuyết hành vi người tiêu dùng, - Lý thuyết trò chơi, - Lý thuyết sản xuất - chi phí - Lý thuyết toán, tối ưu, - Kiến thức kinh tế ngành.
- Các hệ thống thông tin. Các mô hình ra quyết định Tích hợp các khái niệm kinh tế, kiến thức kinh tế ngành và các phương pháp định lượng để giải quyết vấn đề về quyết định quản lý Giải pháp tối ưu cho vấn đề về quyết định quản lý Các quyết định quản lý thường liên quan đến các vấn đề phân bổ nguồn lực trong tổ chức, bao gồm cả ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, nhà quản lý có thể quan tâm đến việc dự báo mối quan hệ giữa cầu và chi phí để ra quyết định giá đối với một sản phẩm và lượng sản phẩm sẽ sản xuất. Trong phạm vi kinh tế vi mô, việc vận dụng lý thuyết cầu và lý thuyết chi phí là rất hữu ích trong việc giải quyết các vấn đề trong phạm vi doanh nghiệp và ngành.
Trong khi đó, kinh tế vĩ mô cố gắng dự báo cầu trong tương lai bằng cách xem xét các lực lượng ảnh hưởng đến tổng thể của nền kinh tế. Trong dài hạn, các quyết định liên quan đến việc mở rộng hay hợp tác sản xuất, phân phối nguồn lực, phát triển và mở rộng thị trường cho sản phẩm mới, quyết định đầu tư hay liên kết với các doanh nghiệp khác. Về cơ bản, những quyết định này tập trung vào việc xem xét qui mô kinh tế và đưa ra các quyết định đầu tư của doanh nghiệp, những quyết định đưa ra trong hiện tại nhằm thu được lợi nhuận trong tương lai. Các nhà kinh tế phát triển lý thuyết đầu tư để vận dụng cho các quyết định đầu tư vốn cụ thể.
Đánh giá các lựa chọn Kinh tế học quản lý xác định các cách thức để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả. Chẳng hạn, một doanh nghiệp nhỏ có thể tăng trưởng nhanh chóng bằng cách sử dụng hữu hiệu quảng cáo bằng phương tiện truyền thông trên phạm vi toàn quốc. Kinh tế học quản lý có thể vận dụng để xác định chiến lược định giá và sản lượng sản xuất để đáp ứng các mục tiêu ngắn hạn nhanh chóng và hữu hiệu. Tương tự như vậy, kinh tế học quản lý đưa ra các nguyên tắc sản xuất và tiếp thị cho phép doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận, trong khi vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng và thị phần.
Kinh tế học quản lý có thể vận dụng cho tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận. Chẳng hạn, các bệnh viện cố gắng cung cấp chất lượng chăm sóc sức khỏe y tế tốt nhất trong giới hạn về nguồn lực như: nhân viên y tế, thiết bị và các nguồn lực khác. Sử dụng các khái niệm và công cụ của kinh tế học quản lý, các nhà quản lý có thể xác định cách thức phân bổ nguồn lực tối ưu. Nói tóm lại, kinh tế học quản lý giúp các nhà quản lý tiếp cận với những qui tắc hoạt động 12 lOMoARcPSD|15547689 Chương 1: Tổng quan về kinh tế vi mô nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng hữu hiệu nguồn lực khan hiếm về con người và vốn.
Tuân theo các qui tắc này, các doanh nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận, các cơ quan chính phủ có thể đạt được mục tiêu một cách hữu hiệu. Ra quyết định tốt nhất Để thiết lập các qui tắc ra quyết định thích hợp, nhà kinh tế phải hiểu được môi trường kinh tế mà doanh nghiệp hoạt động. Chẳng hạn, một nhà bán lẻ tạp phẩm cung cấp các sản phẩm có độ nhạy cảm cao đối với giá như sữa, thường có tỷ lệ markup (phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất) rất thấp thường 1% đến 2%. Trong khi đó, các sản phẩm có độ nhạy thấp như thuốc điều trị, thì tỷ lệ markup rất cao, khoảng 40%.
Kinh tế học quản lý xem xét thực tế việc định giá để đáp ứng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tương tự như vậy, kinh tế học quản lý cũng khám phá ra rằng hạn ngạch nhập khẩu làm giảm khả năng thay thế đối với xe hơi sản xuất nội địa, làm tăng giá xe hơi và tạo nên một lợi nhuận độc quyền cho các nhà sản xuất nội địa. Tuy nhiên, kinh tế học quản lý không giải thích việc qui định hạn ngạch có phải là chính sách tốt hay không, bởi đây là quyết định liên quan đến chính sách kinh tế. Kinh tế học quản lý xem xét ảnh hưởng kinh tế đối với doanh nghiệp và ngành.
Kinh tế học quản lý cung cấp khả năng vận dụng toàn diện lý thuyết kinh tế và phương pháp luận ra quyết định. Khả năng vận dụng phù hợp với: việc quản lý của các cơ quan chính phủ, bệnh viện, trường học, bảo tàng và các tổ chức phi lợi nhuận khác; hay quản lý các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh. MỘ M ỘTT SSỐ Ố TTH HUUẬ ẬTT N NGGỮ Ữ Hộ gia đình Nền kinh tế thị trường Mô hình Doanh nghiệp Nền kinh tế kế hoạch Giả thuyết Chính phủ Nền kinh tế hỗn hợp Qui luật Thị trường sản phẩm Môi trường kinh doanh Nguyên lý Thị trường nguồn lực Kinh tế học Chính sách kinh tế Tài nguyên Khan hiếm Kinh tế học thực chứng Vốn Kinh tế học vĩ mô Kinh tế học chuẩn tắc Lao động Kinh tế học vi mô Kinh tế học quản lý Quản lý Khoa học kinh tế C CÂÂU UHHỎ ỎII Ô ÔNN TTẬ ẬPP 1. Trong nền kinh tế thị trường, ai là người quyết định hàng hóa và dịch vụ sẽ được sản xuất, chúng được sản xuất bằng cách nào và ai sẽ nhận được hàng hóa và dịch vụ? Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng quyết định mua hàng hóa và dịch vụ theo cách thức mua sắm của họ.
Nếu người tiêu dùng mong muốn có nhiều hàng hóa hay dịch vụ và có khả năng thanh toán thì cầu sẽ tăng lên và giá cả hàng hóa hay dịch vụ sẽ tăng lên. Lợi nhuận cao sẽ hấp dẫn các nhà sản xuất mới gia nhập ngành. Nếu người tiêu dùng muốn ít hàng hóa hay dịch vụ hơn, khi đó cầu sẽ giảm và giá cũng sẽ giảm. Khi đó, các nguồn lực khác sẽ hấp dẫn hơn so với ngành.
Nghiên cứu về lợi nhuận chỉ ra cách thức hàng hóa và dịch vụ sẽ được sản xuất như thế nào. Một doanh nghiệp phải sử dụng kết hợp các nguồn lực có chi phí thấp nhất hoặc phải rút lui khỏi ngành. Thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận được hàng hóa và dịch vụ cung cấp. Thu nhập được xác định bởi quan hệ sở hữu nguồn lực: những ai sở hữu nguồn lực có giá trị cao sẽ nhận được nhiều thu nhập hơn.
Rồi thì, sản phẩm và dịch vụ sẽ được phân bổ cho những ai mong muốn trả với mức giá thị trường của sản phẩm và dịch vụ. 13 lOMoARcPSD|15547689 Chương 1: Tổng quan về kinh tế vi mô 2. Cách thức tương tác của các thành phần: hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ trong nền kinh tế? Hộ gia đình sở hữu các yếu tố sản xuất và cung cấp chúng cho các doanh nghiệp và nhận thu nhập. Các doanh nghiệp kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hóa và dịch vụ và bán cho hộ gia đình và chính phủ.