mở đầu này, chúng ta chưa thể hình dung một cách cụ thể lạm phát là gì và mối tương quan giữa việc in tiền của chính phủ và làm phát là như thế nào. Tuy nhiên, qua nguyên lý này, ít nhiều chúng ta cũng biết rằng không phải chính phủ muốn in bao nhiêu tiền cũng được và lạm phát cao là không tốt cho nền kinh tế. 4 Chúng ta có một chương để nói về các hoạt động của chính phủ trong thị trường tiền tệ thông qua việc phát hành tiền vào nền kinh tế cũng như các công cụ để chính phủ can thiệp vào thị trường tiền tệ. Đồng thời, sau đó, chúng ta sẽ có một chương để bàn luận và phân tích rõ hơn về các chính sách của chính phủ, trong đó bao gồm cả việc in tiền của chính phủ.
Khi đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về nguyên lý này. * Nguyên lý 6: Trong ngắn hạn sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp. Nguyên lý này cũng như nguyên lý 5, chúng ta khó có thể hình dung và giải thích được mối quan hệ giữa hai biến số này ngay bây giờ. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu rằng, sự đánh đổi trong ngắn hạn có nghĩa là, nếu nền kinh tế muốn có tỷ lệ lạm phát thấp thì phải chịu tỷ lệ thất nghiệp cao và ngược lại, muốn tỷ lệ thất nghiệp thấp thì phải chịu tỷ lệ lạm phát cao.
Để có thể hiểu được và giải thích được mối quan hệ nghịch biến này, chúng ta cần phải tổng hợp nhiều biến số khác nữa trong nền kinh tế. Nội dung này chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ ở chương 5. Các vấn đề của kinh tế học vĩ mô 1. Một số khái niệm Trong thực tế, những người nghiên cứu kinh tế học vĩ mô có những quan điểm khác nhau, họ có thể đưa ra những vấn đề khác nhau về sản lượng quốc gia, giá cả, việc làm, lạm phát, tỷ giá hối đoái.
Trong phạm vi cuốn sách này, chúng ta chỉ quan tâm đến ba vấn đề chủ yếu của kinh tế vĩ mô, đó là: sản lượng quốc gia, lạm phát và thất nghiệp. * Sản lượng quốc gia Sản lượng quốc gia chính là giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế ở một thời kỳ nhất định nào đó. Đây là một trong những chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu đối với những ai quan tâm đến hoạt động của cả nền kinh tế. Nó không chỉ phản ánh khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, mà còn phản ánh và ảnh hưởng đến mức sống dân cư cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó.
Đối với kinh tế học vĩ mô, khi nói đến sản lượng quốc gia, chúng ta không đề cập đến số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra; mà ngược lại, chúng ta sẽ đề cập đến giá trị của chúng. Đó là do trong một thời kỳ nhất định nào đó, nền kinh tế sản xuất ra hàng triệu triệu loại hàng hóa và dịch vụ, ta không thể nào cộng hết tất 5 cả các loại hàng hóa và dịch vụ đó với nhau được vì mỗi loại có một đơn vị tính riêng, cho nên ta sẽ dùng giá trị. Thông thường, sản lượng quốc gia được đo lường thông qua một số chỉ tiêu như GDP, GNP… Cách thức đo lường sản lượng quốc gia cũng như cách thức sản lượng quốc gia ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia sẽ được giới thiệu cụ thể trong Chương 2. * Lạm phát Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung theo thời gian.
Khi nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ tổng thể, giá ở đây không phải là giá của một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào như trong kinh tế học vi mô, mà giá ở đây là mức giá hay mặt bằng giá chung của toàn bộ nền kinh tế. Mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế được thể hiện thông qua các chỉ số giá. Các loại chỉ số giá này sẽ được giới thiệu cụ thể ở chương 5. Thông qua các loại chỉ số giá này, tỷ lệ lạm phát của một nền kinh tế trong một thời kỳ nào đó sẽ được xác định; đó chính là phần trăm thay đổi của chỉ số giá của thời kỳ này so với thời kỳ trước.
Tỷ lệ lạm phát là một trong các chỉ tiêu chính để phản ánh tình trạng hoạt động của nền kinh tế. Một số người có thể nhầm lẫn lạm phát đồng nghĩa là nền kinh tế đang hoạt động không tốt. Điều này không hoàn toàn đúng vì chỉ khi nào tỷ lệ lạm phát quá cao thì hoạt động của nền kinh tế đó mới không tốt. Như vậy, tại sao nền kinh tế lại có lạm phát? Lạm phát gây ra những tác động gì cho nền kinh tế? Tỷ lệ lạm phát như thế nào thì hoạt động của nền kinh tế được xem là tốt và như thế nào thì được xem là xấu? Trong trường hợp tỷ lệ lạm phát quá cao, nền kinh tế làm cách nào để kiềm chế lạm phát?.
Tất cả những câu hỏi trên sẽ được giải thích cụ thể ở chương 5. * Thất nghiệp Thất nghiệp là từ dùng để chỉ tình trạng của những người đang trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc, đang tìm việc nhưng chưa có việc làm. Thông thường, tình trạng thất nghiệp của một nền kinh tế hay của cả quốc gia được phản ánh qua tỷ lệ thất nghiệp. Cũng như lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp cũng là một chỉ tiêu phản ánh tình trạng hoạt động của nền kinh tế.
Nếu tỷ lệ thất nghiệp cao, tức là nhu cầu sử dụng lao 6 động giảm, điều đó có nghĩa là hoạt động của nền kinh tế đó đang có vấn đề. Ngược lại, nếu tỷ lệ thất nghiệp thấp, tức là hoạt động của nền kinh tế đang tiến triển tốt, cho nên nhu cầu sử dụng lao động tăng. Theo nguyên lý 6, trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp là mối quan hệ nghịch biến, tức là lạm phát tăng thì thất nghiệp giảm và ngược lại, lạm phát giảm thì thất nghiệp tăng. Tại sao lại có mối quan hệ đó trong ngắn hạn? Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp trong dài hạn thì sao? Làm cách nào để đo lường tỷ lệ thất nghiệp? Thất nghiệp tác động đến nền kinh tế như thế nào? Làm thế nào để giảm tỷ lệ thất nghiệp?.
Tất cả những điều này sẽ được làm rõ trong chương 5. Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô Một nền kinh tế hoàn chỉnh bao gồm hàng triệu đơn vị kinh tế: các hộ gia đình, các hãng kinh doanh, các cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương. Các đơn vị kinh tế này tạo nên một màng lưới chằng chịt các giao dịch kinh tế trong quá trình tạo ra tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Để tìm được cái cốt lõi bên trong của các giao dịch và đưa ra các phương pháp tính toán tổng sản phẩm một cách có cơ sở khoa học, chúng ta hãy bắt đầu bằng một trường hợp đơn giản nhất: Bỏ qua khu vực Nhà nước và khả năng tiến hành các giao dịch với nước ngoài, xét một phần kinh tế khép kín, tự cấp tự túc, chỉ bao gồm hai tác nhân: các hộ gia đình và các hãng kinh doanh.
Các hộ gia đình sở hữu lao động và các yếu tố đầu vào khác của sản xuất như vốn, đất đai… Các hộ gia đình cung cấp các yếu tố đầu vào sản xuất cho các hãng kinh doanh. Các hãng kinh doanh dùng yếu tố này sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ bán cho các hộ gia đình. Các hộ gia đình có thu nhập từ việc cho thuê các yếu tố sản xuất và dùng thu nhập đó trả cho các hàng hóa mua từ các hãng kinh doanh. Những giao dịch hai chiều đó tạo nên dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô, được trình bày trong hình 1.
Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ Hàng hóa và dịch vụ Hãng Hộ kinh doanh gia đình Dịch vụ yếu tố sản xuất Thu nhập từ các yếu tố sản xuất Hình 1. Dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô 7 Dòng bên trong là sự luân chuyển các nguồn lực thật: hàng hóa và dịch vụ từ các hãng kinh doanh sang hộ gia đình và dịch vụ về yếu tố sản xuất từ hộ gia đình sang các hãng kinh doanh. Dòng bên ngoài là các giao dịch thanh toán bằng tiền: Các hãng kinh doanh trả tiền cho các dịch vụ yếu tố sản xuất tạo nên thu nhập của các hộ gia đình; Các hộ gia đình thanh toán các khoản chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ. Sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô gợi lên hai cách tính khối lượng sản phẩm trong một nền kinh tế.
1- Theo cung trên, chúng ta có thể tính tổng giá trị của các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế. 2- Theo cung dưới, chúng ta có thể tính tổng mức thu nhập từ các yếu tố sản xuất. Nếu giả định toàn bộ số thu nhập của các hộ gia đình được đem chi tiêu hết để mua hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh bán hết hàng hóa và dùng tiền thu được để tiếp tục triển khai sản xuất, lợi nhuận của các hãng kinh doanh cũng là một khoản thu nhập của các hộ gia đình thì con số thu được từ hai cách tính toán trên đây phải bằng nhau. Sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô đặt cơ sở cho các phương pháp tính toán tổng số sản phẩm quốc nội sẽ trình bày kỹ hơn ở chương 2.
Sơ đồ này cũng gợi ra những ý niệm về tầm quan trọng của hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình: Chính các hộ gia đình chứ không phải doanh nghiệp quyết định mức chi tiêu trong nền kinh tế, tác động đến việc mở rộng hay thu hẹp sản xuất. Đồng thời sơ đồ cũng cho thấy tác động của việc gia tăng cung ứng các yếu tố sản xuất, đặc biệt là tiến bộ công nghệ đến sự tăng trưởng kinh tế, bằng cách sản xuất nhiều hơn hàng hóa và dịch vụ đưa đến thu nhập, và chi tiêu nhiều hơn của các hộ gia đình, nâng cao mức sống của tầng lớp dân cư trong xã hội. Mục tiêu của kinh tế học vĩ mô Mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ đều có những mục tiêu cụ thể. Nhìn chung, mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế đều hướng tới năm mục tiêu: hiệu quả, tăng trưởng, ổn định, bình đẳng và môi trường.
* Hiệu quả Khi bàn luận về bản chất của kinh tế học, chúng ta biết rằng do có sự khan hiếm nên mới có kinh tế học.