Chương 1. Sức mạnh của thưởng phạt Dây đai an toàn nguy hiểm như thế nào? Phần lớn các kiến thức kinh tế có thể được tóm gọn trong những dòng sau: “Con người sẽ phản ứng trước thưởng phạt”. Phần còn lại chỉ là những lời dẫn giải. “Con người sẽ phản ứng trước thưởng phạt” nghe đủ vô thưởng vô phạt để hầu hết mọi người đều có thể thừa nhận sự đúng đắn của nó với tư cách là một nguyên lý phổ biến.
Thứ làm nên sự khác biệt của nhà kinh tế học là sự kiên trì trong việc xem xét nghiêm túc nguyên lý này tại bất cứ thời điểm nào. Tôi vẫn còn nhớ cảnh chờ đợi nửa tiếng đồng hồ để mua một can xăng với mức giá được chính quyền liên bang bảo hộ vào cuối những năm 1970. Hầu như tất cả các nhà kinh tế học đều đồng tình rằng nếu giá xăng được phép tăng tự do thì người ta sẽ mua ít hơn. Nhưng giới phi kinh tế học thì tin vào điều ngược lại.
Các nhà kinh tế học đã đúng: Khi sự bảo hộ giá được dỡ bỏ, những dãy hàng dài chờ mua xăng cũng biến mất. Niềm tin của nhà kinh tế học vào sức mạnh của thưởng phạt rất có ích cho anh ta, và anh ta tin tưởng tuyệt đối vào nó như tin vào một hướng dẫn viên khi đang ở một nơi xa lạ vậy. Năm 1965, Ralph Nader xuất bản cuốn Unsafe at Any Speed, một cuốn sách kêu gọi sự chú ý tới các yếu tố thiết kế khác nhau khiến ô tô trở nên nguy hiểm hơn mức cần thiết. Chính phủ liên bang nhanh chóng phản ứng lại bằng cách đưa ra một loạt quy định về an toàn cho xe ô tô, bắt buộc sử dụng dây đai an toàn, bảng đồng hồ có đệm, vô lăng gập lại được, hệ thống phanh đôi và kính chắn gió chống thấm.
Ngay cả trước khi các quy định này có hiệu lực, bất cứ nhà kinh tế học nào cũng có thể tiên đoán được một trong những hậu quả của chúng: Con số tai nạn do ô tô gây ra tăng lên nhanh chóng. Nguyên do là, tính mạng như “ngàn cân treo sợi tóc” trong một tai nạn chính là động cơ thúc đẩy người ta lái xe cẩn thận hơn. Nhưng nếu người lái xe thắt dây an toàn và bảng đồng hồ trước mặt được lót đệm thì họ sẽ gặp ít nguy hiểm hơn. Vì người ta sẽ phản ứng trước những kích thích mang tính tích cực, nên sẽ lái xe sẽ ẩu hơn.
Kết quả là nhiều tai nạn xảy ra hơn. Nguyên lý mà tôi đang áp dụng cũng chính là nguyên lý tiên đoán sự biến mất của hàng dài chờ mua xăng. Khi giá xăng còn thấp, người ta chọn mua nhiều xăng hơn. Khi giá của các tai nạn (ví dụ, xác suất thương vong hay giá thuốc men chữa trị được phỏng đoán) thấp, người ta sẽ chọn việc có nhiều tai nạn hơn.
Bạn có thể phản bác rằng tai nạn, không giống như xăng, không mang nghĩa “tốt” để người ta chọn mua. Nhưng “tốc độ” và “cẩu thả” là thứ hàng hóa mà dường như người ta luôn mong muốn có được. Việc lựa chọn lái xe nhanh hơn hay cẩu thả hơn cũng giống như việc lựa chọn có thêm nhiều tai nạn hơn, ít nhất là về mặt xác suất. Một câu hỏi thú vị vẫn luôn đeo bám: Tác động thực sự của sự kiện đó lớn tới mức nào? Đã có thêm bao nhiêu tai nạn xảy ra do các quy định về an toàn từ những năm 1960? Đây là cách đặt câu hỏi thu hút sự chú ý: Các luật định có xu hướng làm giảm số lượng tử vong của các tài xế bằng cách tăng khả năng sống sót sau các vụ tai nạn.
Cũng như vậy, các luật định có xu hướng làm tăng số lượng tử vong của các tài xế bằng cách khuyến khích thái độ lái xe ẩu. Tác động nào sẽ lớn hơn? Tác động thực của các luật định là nhằm giảm hay tăng số lượng tử vong? Không thể giải đáp được câu hỏi này chỉ bằng logic thuần túy. Chúng ta phải nhìn vào con số thực tế. Vào giữa những năm 1970, Sam Peltzman thuộc trường Đại học Chicago đã thực hiện điều đó.
Ông nhận thấy rằng hai tác động trên tương đương nhau, và vì thế, chúng tự loại trừ lẫn nhau. Số lượng tai nạn tăng lên và số lượng tử vong trong mỗi tai nạn giảm xuống, nhưng về cơ bản, tổng số lượng tài xế tử vong không hề thay đổi. Một tác động phụ rất thú vị là số lượng người đi bộ thương vong lại tăng lên; suy cho cùng, người đi bộ không được lợi ích gì từ các bảng đồng hồ có đệm. Tôi khám phá ra rằng khi tôi nói với giới phi kinh tế học về những kết quả Peltzman thu được, họ không thể tin được rằng người ta lái xe ẩu hơn chỉ đơn giản là vì ô tô của họ an toàn hơn.
Còn các nhà kinh tế học − những người đã học cách tôn trọng nguyên lý “người ta sẽ phản ứng trước thưởng phạt” − thì không vấp phải khó khăn trên. Nếu bạn khó có thể tin rằng người ta lái xe ẩu hơn khi ô tô của họ an toàn hơn, thì bạn hãy xem xét trường hợp người ta lái xe cẩn thận hơn khi ô tô của họ nguy hiểm hơn. Đương nhiên, đó chỉ là cách diễn đạt khác của cùng một luận điểm, nhưng với cách diễn đạt này, người ta dễ tin vào luận điểm đó hơn. Nếu dây đai an toàn được tháo khỏi xe của bạn, chẳng phải bạn sẽ chú ý hơn khi lái xe hay sao? Hãy nâng quan sát này lên một mức độ cao hơn.
Nhà kinh tế học người Mỹ Armen Alchian thuộc trường Đại học California tại Los Angeles đã gợi ý một cách giúp giảm thiểu tỷ lệ tai nạn: Hãy yêu cầu lắp thêm một mũi tên ngay trên vô lăng ô tô, đầu nhọn chĩa thẳng vào tim của tài xế. Alchian tự tin dự đoán rằng tình trạng cho xe chạy quá sát phía sau một xe khác sẽ giảm đáng kể. Chẳng có ý nghĩa gì khi liều mạng một cách dại dột để rồi nhận lấy nhiều rủi ro hơn khi bạn có một bảng đồng hồ có đệm. Lái ẩu thì phải trả giá, nhưng nó cũng mang lại những niềm vui cho kẻ ngồi sau vô lăng.
Bạn đến đích nhanh hơn, và bạn thường diễn rất nhiều trò vui trên đường. “Lái xe ẩu” có nhiều kiểu: Lái xe trong những tình huống nguy hiểm, để tâm trí treo ngược cành cây, hay tạm thời chuyển sự tập trung vào đường đi sang việc tìm băng cát-sét. Bất cứ hành động nào cũng có thể khiến chuyến đi của bạn trở nên thú vị hơn, và bất cứ hoạt động nào cũng xứng đáng là yếu tố làm tăng rủi ro tai nạn lên một chút. Đôi lúc người ta bị lôi cuốn vào việc phản ứng rằng không điều gì – hay ít nhất là những gì tôi kể trên – đáng là một yếu tố rủi ro gây tử vong.
Các nhà kinh tế học cảm thấy khó chịu trước phản bác này, vì cả những người phản bác lẫn những người khác đều thực sự tin vào điều này. Hàng ngày, tất cả mọi người đang mạo hiểm mạng sống chỉ vì những lợi ích nhỏ mọn. Việc lái xe tới cửa hàng để mua một tờ báo chứa đựng nguy cơ hiển nhiên và có thể phòng tránh bằng cách ở nhà, nhưng người ta vẫn lái xe tới cửa hàng. Chúng ta không cần phải hỏi liệu niềm vui bé nhỏ ấy có đáng đánh đổi với bất cứ rủi ro nào không, bởi câu trả lời hiển nhiên là có.
Câu hỏi hay hơn phải là niềm vui ấy đáng giá từng nào rủi ro như thế nào. Sẽ là hoàn toàn có lý khi nói: “Tôi sẽ tìm băng cát-sét trong khi lái xe nếu điều đó dẫn tới một trong một triệu nguy cơ tử vong”. Đó là lý do tại sao nhiều người tìm băng cát- sét khi xe chạy với vận tốc 25 dặm/giờ hơn là với vận tốc 70 dặm/giờ. Quan sát của Peltzman cho thấy hành vi lái xe đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi môi trường xung quanh tài xế.
Điều này tạo cơ hội cho một số tài xế gây ảnh hưởng tới hành vi của các tài xế khác. Những tấm biển hiệu có hình trẻ em trên xe nhan nhản khắp nơi là một ví dụ. Những biển hiệu này vốn có chủ ý nhắc nhở các tài xế khác rằng họ nên cẩn thận hơn khi lái xe. Tôi biết rằng nhiều tài xế cảm thấy mình bị xúc phạm bởi những biển báo này ám chỉ rằng họ chưa thật sự cẩn thận khi lái xe.
Các nhà kinh tế học sẽ không mấy cảm thông với cảm giác này, vì họ biết rằng không ai từng lái xe thật sự cẩn thận (bạn có lắp một bộ phanh mới mỗi lần đi siêu thị không?), và sự cẩn trọng của đa số các tài xế thay đổi rõ rệt cùng với môi trường xung quanh họ. Thật ra chẳng vị tài xế nào muốn gây thương tích cho hành khách trên các ô tô khác; rất nhiều tài xế còn ăn năn day dứt khi họ đụng phải ô tô có trẻ em ở trên. Nhóm những tài xế đó sẽ chọn cách lái xe cẩn thận hơn khi được cảnh báo về sự hiện diện của trẻ em và sẽ cảm kích hơn khi được cảnh báo về điều đó. Một cách ngẫu nhiên, đây lại là gợi ý cho một đề tài nghiên cứu thú vị.
Các nhà kinh tế học cho rằng rất nhiều tài xế sẽ cẩn trọng hơn trước sự xuất hiện của biển hiệu trẻ em trên xe. Công trình này nhằm mục đích tìm hiểu xem sự cẩn trọng sẽ thay đổi như thế nào bằng cách theo dõi tỷ lệ tai nạn của các xe có và không có biển hiệu này. Đáng tiếc là tỷ lệ tai nạn lại có thể là chỉ dẫn sai lệch vì ít nhất ba lý do sau. Thứ nhất, các bậc phụ huynh − những người có treo biển hiệu này trên xe − có lẽ là những người lái xe cẩn thận hơn bình thường; họ ít gặp tai nạn hơn chỉ vì họ là những tài xế đặc biệt cẩn thận, chứ không phải vì tác động của biển báo này như đối với những tài xế khác.
Thứ hai (và mở ra một thành kiến theo hướng đối lập), các bậc phụ huynh kia − những người có treo biển hiệu − biết rằng biển báo này sẽ khiến các tài xế khác cẩn trọng, và vì thế họ tự cho phép bản thân được lơ là một chút. Điều này dẫn tới việc họ gặp nhiều tai nạn hơn và ít nhất triệt tiêu phần nào những tác động của việc các tài xế khác lái xe cẩn thận hơn.