ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện được hình thành từ rất lâu trong lịch sử nhân loại, trước đây bệnh viện được xem như là nơi cứu giúp những người nghèo khổ khị bị ốm đau, bệnh tật. Ngày nay, bệnh viện là nơi khám, chẩn đoán và điều trị bệnh tật, chăm sóc sức khoẻ cho người dân, nơi tiến hành nghiên cứu khoa học về y học, đào tạo nhân lực y tế [66]. Trong nhiều chức năng của bệnh viện, chức năng khám chữa bệnh và chất lượng khám chữa bệnh là quan trọng nhất. Bệnh viện là cơ sở điều trị cung ứng các dịch vụ khám chữa bệnh cho nhân dân khi dịch, bệnh xuất hiện; nơi cứu sống người bệnh; nơi tiếp xúc với người dân tại thời điểm nhạy cảm nhất.
Người dân đánh giá, nhận xét hiệu quả nhiệm vụ của ngành Y tế thông qua hệ thống bệnh viện. Bệnh viện được nhìn nhận như là bộ mặt của ngành Y tế. Trong những năm qua, hệ thống Y tế Việt Nam nói chung đặc biệt là hệ thống khám chữa bệnh nói riêng đã có nhiều bước phát triển tiến bộ vượt bậc. Nhiều thiết bị y tế tiên tiến và kỹ thuật mới trên thế giới được đưa vào áp dụng phục vụ cho chẩn đoán và điều trị.
Trình độ nhân viên y tế không ngừng được nâng cao. Số bệnh viện và giường bệnh tiếp tục tăng lên tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người dân và góp phần chữa trị, cứu sống nhiều người bệnh [50]. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống bệnh viện ở Việt Nam cũng bộc lộ nhiều bất cập và chưa hiệu quả. Người bệnh chưa hài lòng với chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện công lập.
Việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện cần được quan tâm đúng mức và có giải pháp khắc phục những yếu kém [6], [12]. Để đánh giá hiệu quả hoạt động của một bệnh viện thường căn cứ vào lưu lượng người bệnh đến khám bệnh chữa bệnh; khả năng cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh thông qua sự hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh khi đến bệnh viện. Nghiên cứu phân tích các nguồn lực cơ bản của Bệnh viện, lưu lượng bệnh nhân và sự phản hồi của người bệnh; khả năng cung cấp dịch vụ y tế; chất lượng phục vụ người bệnh; lựa chọn giải pháp quản lý Bệnh viện thế nào cho phù hợp và là cơ sở khoa học để hoạch định chính sách đầu tư mở rộng, phát triển hệ thống điều trị cho ngành, cho địa phương. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang là một bệnh viện hạng II trực thuộc Sở y tế, quy mô hiện tại 400 giường và đang được đầu tư, nâng cấp lên quy mô 500 giường vào năm 2015.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang là tuyến cuối của tỉnh, tiếp nhận toàn bộ bệnh nhân chuyển đên từ 11 huyện, thành phố trong tỉnh và cả người bệnh của huyện Bảo Lâm, Cao Bằng chuyển sang, bệnh viện cách xa Hà Nội 330 km nên việc vận chuyển người bệnh lên tuyến trên là rất khó khăn. Để nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh, phát triển bệnh viện đạt tiêu chuẩn hạng II, quy mô 500 giường vào năm 2015, câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý y tế là: Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang trong những năm gần đây như thế nào? những yếu tố nào đang tác động đến chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện và những giải pháp nào nâng cao được chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện? Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang và kết quả một số giải pháp can thiệp". Với mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang năm 2010-2012; 2.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang; 3. Đánh giá kết quả một số giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang. Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Thực trạng hoạt động bệnh viện 1.
Một số khái niệm và quy định về bệnh viện 1. Khái niệm Bệnh viện (BV) là một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ khám, chữa bệnh và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình; bệnh viện cũng là nơi đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu y học[66]. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện Theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT, ngày 19/9/1997 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế bệnh viện, bệnh viện có 07 chức năng chính: [3] 1. Cấp cứu – khám bệnh - chữa bệnh - phục hồi chức năng; 2.
Đào tạo cán bộ y tế; 3. Nghiên cứu khoa học về y học; 4. Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật; 5. Phòng bệnh; 6.
Hợp tác quốc tế; 7. Quản lý kinh tế y tế. Trong những năm gần đây, đất nước ta có nhiều đổi mới về phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường.
Quá trình chuyển đổi kéo theo sự thay đổi về mô hình, cơ chế hoạt động và chủ trương đầu tư phát triển của các đơn vị sự nghiệp trong ngành Y tế, nhất là hệ thống các bệnh viện. Nhiều cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu, bán công trong bệnh viện được ra đời. Tính nhân đạo của thầy thuốc phần nào bị suy giảm, chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện công lập có nhiều thay đổi. Đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và giữ được bản chất nhân đạo của chế độ trong điều kiện nền kinh tế thị trường vừa là vấn đề cấp bách, vừa là một chính sách lâu dài [50].
Tổ chức mạng lưới bệnh viện ở Việt Nam Hệ thống bệnh viện Việt Nam gồm các bệnh viện công lập và các bệnh viện tư bao gồm cả bệnh viện bán công và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài. Hệ thống bệnh viện công lập được tổ chức theo hệ thống hành chính và có 3 tuyến [50]. Hệ thống bệnh viện nước ta, được phân cấp hành chính và phân tuyến kỹ thuật từ trung ương đến địa phương. Tuyến quận/huyện thực hiện các kỹ thuật cơ bản, mang tính đa khoa.
Tuyến tỉnh/thành phố thực hiện kỹ thuật phức tạp hơn, mang tính chuyên khoa. Tuyến trung ương là tuyến cuối cùng, thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên khoa sâu [50]. Tuyến Trung ương là các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trực thuộc Bộ Y tế, một số bệnh viện đa khoa, chuyên khoa trực thuộc các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng có quy mô lớn, hiện đại. Các bệnh viện tuyến Trung ương là tuyến cuối trong hệ thống điều trị với các kỹ thuật cao, chuyên sâu, trang thiết bị hiện đại tiếp nhận và điều trị người bệnh nặng từ các tỉnh chuyển về.
Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa khu vực (liên huyện) và các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, các bệnh viện đa khoa trực thuộc các Bộ ngành tiếp nhận điều trị người bệnh trong khu vực và các người bệnh nặng vượt khả năng của tuyến huyện. Các bệnh viện tuyến tỉnh có khả năng khám chữa hầu hết các bệnh tật ở mức độ chuyên khoa. Tuyến quận, huyện có các bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện thuộc các bộ ngành, tiếp nhận, điều trị nội trú với các kỹ thuật cơ bản, giải quyết một số cấp cứu và bệnh tật thông thường. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, khả năng chuyên môn, chất lượng khám chữa bệnh trong hệ thống các bệnh viện của Việt Nam không đồng đều, nhất là ở các bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa huyện miền núi.
Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vượt tuyến điều trị, gây quá tải tại các bệnh viện tuyến trung ương [37]. Quy mô giường bệnh của các bệnh viện Bảng 1. Số giƣờng bệnh của Việt Nam 2001-2011 Giƣờng bệnh Giƣờng bệnh cho 10.000 dân Năm Tổng số Trong đó: Giƣờng Tổng số Trong đó: quốc lập Giƣờng quốc lập 2001 185.931 29,85 23,56 Nguồn niên giám thống kê 2011 - Bộ Y tế [14] Số giường bệnh của Việt nam tăng đều hàng năm trong vòng 10 năm qua với tổng số 262.223 giường bệnh, đạt mức 29,85 giường/10. Trong đó giường bệnh viện công lập đạt mức 23,56 giường/10.
Giƣờng bệnh trên 10.000 dân của một số nƣớc Nước Giường bệnh Nước Giường bệnh /10.000 dân Nhật Bản 143 Xrilanca 22 Pháp 77 Thái lan 22 Hàn Quốc 71 Malaixia 19 Newzlan 61 Butan 16 Anh 42 Lào 12 Canada 37 Philippin 10 Thuỵ Điển 36 Ấn Độ 9 Mỹ 33 Pakistan 7 Singapor 29 Mianma 6 Việt Nam 23,56 Campuchia 5 Brunay 26 Banglades 3 Trung Quốc 25 Nê Pan 2 Trong những năm qua được sự quan tâm đầu tư của chính phủ các Bệnh viện của Việt Nam đã tổ chức mạng lưới cung ứng dịch vụ KBCB được phát triển rộng khắp. Chỉ tiêu giường bệnh khu vực công lập đạt 23,56/10.000 dân ngang bằng với một số nước trong khu vực [14], [20]. Loại hình và tính chất chuyên khoa các bệnh viện công lập Bảng 1. Cơ sở, giƣờng bệnh phân theo tuyến của Việt Nam Giƣờng bệnh Loại bệnh viên Cơ sở Số lƣợng Cơ cấu (%) Tuyến Trung ương 46 22.595 5,45 Bệnh viện tư nhân 102 5.753 Nguồn niên giám thống kê 2011 - Bộ Y tế [14] Hiện nay, Việt Nam có 2.603 bệnh viện công lập và tư nhân với 262.223 giường bệnh.
Quy mô các bệnh viện thường ở mức trung bình và nhỏ [20]. Ở khu vực tư nhân, đến nay cả nước có 102 bệnh viện với hơn 5.822 giường bệnh (chiếm tỷ lệ 3,91 cơ sở và 2,74% giường bệnh). Số lượng các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều nhưng quy mô còn nhỏ lẻ. Tỷ lệ bệnh viện tư và giường bệnh tư của Việt Nam là rất thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan (30% và 22,5%), Indonesia (42% và 32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%) [14], [20].
Tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng bệnh viện Chất lượng bệnh viện là toàn bộ các khía cạnh liên quan đến người bệnh, người nhà người bệnh, nhân viên y tế, năng lực thực hiện chuyên môn kỹ thuật; các yếu tố đầu vào; yếu tố hoạt động và kết quả đầu ra của hoạt động khám bệnh, chữa bênh.