Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang và kết quả một số giải pháp can thiệp" được thực hiện bởi tác giả Lương Viết Thuần dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Trần Đức Quý, bảo vệ tại Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên năm 2013 thuộc chuyên ngành Y tế công cộng (Mã số: CK 62 72 76 01).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò trung tâm của hệ thống bệnh viện trong công tác khám, chẩn đoán, điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong bối cảnh chuyển đổi sang cơ chế thị trường và thực hiện các chính sách tự chủ tài chính, hệ thống khám chữa bệnh tại Việt Nam phát sinh nhiều bất cập như tình trạng quá tải, cơ sở vật chất chưa đồng bộ và mức độ hài lòng của người bệnh chưa cao. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hà Giang, quy mô 400 giường bệnh (được quy hoạch nâng cấp lên 500 giường vào năm 2015). Đây là cơ sở y tế tuyến cuối của tỉnh, tiếp nhận bệnh nhân từ 11 huyện, thành phố trong tỉnh và huyện lân cận (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng). Do vị trí địa lý cách Hà Nội 330 km, việc chuyển tuyến người bệnh lên tuyến trung ương gặp nhiều trở ngại. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần đánh giá toàn diện thực trạng cung ứng dịch vụ, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và đo lường hiệu quả của các giải pháp can thiệp quản lý cụ thể tại địa bàn vùng cao còn nhiều khó khăn.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:
- Mô tả thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang năm 2010 - 2012;
- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động khám chữa bệnh của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang;
- Đánh giá kết quả một số giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm: người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện; cán bộ y tế và nhân viên bệnh viện; lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa, phòng; tài liệu, số liệu thứ cấp lưu trữ tại Phòng Kế hoạch tổng hợp về hoạt động khám chữa bệnh giai đoạn 2010 - 2012 và 10 tháng đầu năm 2013. Phạm vi không gian nghiên cứu là Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và can thiệp được triển khai từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các quy định, khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá hoạt động bệnh viện tại Việt Nam. Theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 của Bộ Y tế, bệnh viện đảm nhận 7 chức năng, nhiệm vụ chính gồm: cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh - phục hồi chức năng; đào tạo cán bộ y tế; nghiên cứu khoa học về y học; chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật; phòng bệnh; hợp tác quốc tế; quản lý kinh tế y tế. Hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh công lập được phân chia theo 3 tuyến hành chính và kỹ thuật: tuyến huyện, tuyến tỉnh và tuyến trung ương.
Về quy mô nguồn lực, số liệu Niên giám thống kê của Bộ Y tế giai đoạn 2001 - 2011 cho thấy số giường bệnh toàn quốc đạt 262.223 giường, tương ứng tỷ lệ 29,85 giường/10.000 dân (trong đó giường bệnh quốc lập đạt 23,56 giường/10.000 dân). Chỉ số giường bệnh/10.000 dân của Việt Nam tương đương một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan (22), Sri Lanka (22), Malaysia (19), cao hơn Lào (12), Philippines (10), Campuchia (5), nhưng thấp hơn Nhật Bản (143), Pháp (77), Hàn Quốc (71), Anh (42) và Trung Quốc (25). Khu vực y tế tư nhân tại Việt Nam năm 2011 có 102 bệnh viện với 5.753 giường bệnh, chiếm tỷ lệ thấp (3,91% số cơ sở và 2,74% số giường) so với các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines.
Về tiêu chuẩn đánh giá, tác giả điểm lại Bảng kiểm tra bệnh viện năm 2012 - 2013 theo Quyết định 4381/QĐ-BYT (gồm 4 nhóm tiêu chuẩn: nguồn lực, thực hiện nhiệm vụ, thực hiện quy chế chuyên môn và đáp ứng sự hài lòng) và Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện gồm 83 tiêu chí chia thành 5 phần (A: Hướng tới người bệnh; B: Phát triển nguồn nhân lực; C: Hoạt động chuyên môn; D: Cải tiến chất lượng; E: Tiêu chí đặc thù chuyên khoa).
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây được tác giả tổng hợp gồm:
- Nghiên cứu của Đỗ Văn Minh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang: chỉ ra các khó khăn về thiếu biên chế bác sĩ, cơ sở vật chất và thiết bị cũ, thu nhập ngoài lương thấp, công suất sử dụng giường bệnh năm 2010 vượt trên 135%; từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp về y đức, giảm tải giường bệnh xuống 95% năm 2015, nâng cao nhân lực và xã hội hóa y tế.
- Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Quyền (2009) tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Bắc Giang: phân tích sự thiếu hụt diện tích các khu kỹ thuật nghiệp vụ (9,6%), khu hành chính (35,88%), khu dịch vụ (14,4%) so với quy định; ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng 11,10% kinh phí hoạt động, trong khi chi phí lương và quản lý chiếm 20,02%.
- Các khảo sát đánh giá năng lực quản lý bệnh viện năm 2009 cho thấy 89,2% cán bộ quản lý chưa qua đào tạo về quản lý bệnh viện, chỉ 45% cán bộ nắm rõ 7 nhiệm vụ của bệnh viện, 41,1% cán bộ tuyến huyện mô tả được các bước quản lý cơ bản và 34,8% có kỹ năng lập kế hoạch.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là áp dụng khung phân tích SWOT và triển khai mô hình can thiệp kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ (cơ sở vật chất, tổ chức nhân sự, quy chế chuyên môn, quản lý giám sát) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang - một bệnh viện tuyến tỉnh vùng cao biên giới có tỷ lệ hộ nghèo cao (41,8% năm 2011) và cơ cấu đa dân tộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết phân tích
Luận án sử dụng mô hình phân tích SWOT (Strengths - Điểm mạnh, Weaknesses - Điểm yếu, Opportunities - Cơ hội, Threats - Thách thức) để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bệnh viện. Quá trình phân tích SWOT được thiết lập qua ma trận kết hợp 6 khía cạnh vận hành: sản phẩm (dịch vụ cung cấp), quá trình (phương thức cung ứng), khách hàng (người bệnh tiếp nhận dịch vụ), phân phối (khả năng tiếp cận dịch vụ), tài chính (chi phí, giá viện phí, nguồn ngân sách và bảo hiểm y tế), quản lý (điều hành và kiểm soát hoạt động).
Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế kết hợp:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính nhằm xác định thực trạng hoạt động và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp phân tích SWOT kết hợp thông tin định lượng và định tính.
- Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước và sau can thiệp (không có nhóm đối chứng).
Phương pháp chọn mẫu:
- Số liệu thứ cấp: Thu thập toàn bộ báo cáo thống kê, sổ sách lưu trữ tại Phòng Kế hoạch tổng hợp về các chỉ số hoạt động bệnh viện từ ngày 01/01/2010 đến ngày 30/12/2012 và 10 tháng năm 2013.
- Mẫu định lượng người bệnh: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:
$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Với $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), $p = 0,5$, sai số tuyệt đối mong muốn $d = 0,05$. Cỡ mẫu lý thuyết là 384 bệnh nhân, thực tế điều tra 410 bệnh nhân nội trú chuẩn bị ra viện hoặc đã nằm viện từ 3 ngày trở lên. Mẫu phân bổ ngẫu nhiên đơn tại 6 khoa có lưu lượng lớn: Khoa Nội (105 bệnh nhân), Khoa Ngoại (105 bệnh nhân), Khoa Nhi (50 bệnh nhân), Khoa Sản (50 bệnh nhân), Khoa Truyền nhiễm (50 bệnh nhân), Khoa Y học cổ truyền (50 bệnh nhân).
- Mẫu cán bộ quản lý: Chọn chủ đích 32 người, gồm Ban Giám đốc (2 người), Phòng Điều dưỡng (2 người), Phòng Kế hoạch tổng hợp (2 người), Phòng Tài chính kế toán (1 người), Khoa Dược (2 người), cùng Trưởng khoa, Phó khoa và Điều dưỡng trưởng của 6 khoa lâm sàng (18 người).
- Mẫu nhân viên y tế: Chọn chủ đích 60 nhân viên tại 6 khoa lâm sàng (mỗi khoa 10 người theo danh sách vần chữ cái). Tổng số cán bộ y tế điều tra thực tế ở hai nhóm là 87 cán bộ.
- Mẫu định tính: Tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm người bệnh điều trị nội trú (2 cuộc trước can thiệp, 2 cuộc sau can thiệp; mỗi cuộc 15 - 20 người) và 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung cán bộ y tế (2 cuộc trước can thiệp, 2 cuộc sau can thiệp; mỗi cuộc 15 - 20 người).
Nội dung can thiệp
Nghiên cứu can thiệp triển khai trong 10 tháng năm 2013 trên 4 nhóm giải pháp:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Đầu tư xây dựng nâng cấp bệnh viện lên quy mô 500 giường; hoàn thiện khu nhà kỹ thuật nghiệp vụ, nhà điều trị, khu chống nhiễm khuẩn; sắp xếp lại khoa khám bệnh; bổ sung trang thiết bị y tế.
- Tài chính: Mở rộng kỹ thuật chuyên môn mới nhằm tăng nguồn thu hợp pháp; quản lý chi tiêu tiết kiệm, minh bạch.
- Tăng cường năng lực: Chủ động tuyển dụng và ký hợp đồng bác sĩ, kỹ thuật viên theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV; bố trí lại nhân lực giữa các khoa; tổ chức lớp học tập quy tắc ứng xử, y đức; đào tạo lại Quy chế bệnh viện và quản lý chất lượng; tổ chức hội thi tay nghề điều dưỡng; tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816.
- Tổ chức quản lý, giám sát: Kiện toàn Hội đồng thuốc và điều trị; duy trì đoàn kiểm tra Quy chế bệnh viện kiểm tra định kỳ hàng tuần có báo trước; giám sát quy trình đón tiếp, khám bệnh, cấp phát thuốc và thủ tục thanh toán ra viện.
Thu thập và xử lý số liệu
Dữ liệu được thu thập qua phiếu điều tra cấu trúc 4 mức độ (Tốt = 1, Khá = 2, Trung bình = 3, Yếu kém = 4), biên bản thảo luận nhóm và trích xuất phần mềm quản lý bệnh viện Medisoft 2003. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm EPI-INFO 6.04 và SPSS; sử dụng các thuật toán thống kê mô tả (tỷ lệ phần trăm) và kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) để so sánh tỷ lệ trước - sau với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.
Nghiên cứu áp dụng các quy chuẩn so sánh: định mức nhân lực theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV; danh mục trang thiết bị theo Quyết định 473/QĐ-BYT; tiêu chuẩn diện tích xây dựng theo Quyết định 365/2007/QĐ-BXD; danh mục thuốc theo Quyết định 05/QĐ-BYT; tiêu chuẩn đánh giá chất lượng theo Quyết định 4381/QĐ-BYT. Các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu được đảm bảo thông qua mã hóa ẩn danh 6 khoa nghiên cứu (từ nhóm 1 đến nhóm 6), bảo mật thông tin người tham gia và không yêu cầu người bệnh ký tên lên phiếu khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 phân tích bức tranh tổng thể về hệ thống khám chữa bệnh tại Việt Nam và bối cảnh y tế tỉnh Hà Giang. Toàn quốc năm 2010 - 2011 ghi nhận công suất sử dụng giường bệnh bình quân ở mức cao (116,60% năm 2010 và 111,74% năm 2011), trong đó tuyến trung ương đạt 124,03% (năm 2010) và 119,10% (năm 2011), tuyến tỉnh đạt 117,16% (năm 2010) và 111,35% (năm 2011). Ngày điều trị nội trú trung bình toàn quốc là 7,35 ngày (năm 2010) và 6,83 ngày (năm 2011).
| Chỉ số hoạt động chuyên môn toàn quốc |
Năm 2010 |
Năm 2011 |
Tăng/Giảm |
| Tổng số lượt khám bệnh (Tuyến tỉnh/thành phố) |
190.516 (91,85%) |
- |
-1,23% |
| Tổng số lượt điều trị nội trú (Tuyến tỉnh/thành phố) |
10.256 (88,00%) |
- |
-0,23% |
| Tổng số lượt điều trị ngoại trú (Tuyến tỉnh/thành phố) |
31.170 (95,03%) |
- |
-0,12% |
| Tổng số ngày điều trị nội trú (Tuyến tỉnh/thành phố) |
72.890 (85,14%) |
- |
-0,22% |
| Ngày điều trị trung bình (Tuyến trung ương) |
10,30 ngày |
9,41 ngày |
Giảm |
| Ngày điều trị trung bình (Tuyến tỉnh/thành phố) |
7,11 ngày |
6,61 ngày |
Giảm |
| Công suất sử dụng giường bệnh (Tuyến trung ương) |
124,03% |
119,10% |
Giảm |
| Công suất sử dụng giường bệnh (Tuyến tỉnh/thành phố) |
117,16% |
111,35% |
Giảm |
Tại tỉnh Hà Giang, hệ thống điều trị năm 2012 có tổng số 2.165 giường bệnh (tuyến tỉnh 740 giường, tuyến huyện 1.425 giường). Tỷ lệ nhân lực làm việc thực tế so với biên chế được giao đạt 79,79% ở tuyến tỉnh (1.548/1.940 biên chế) và 74,29% ở tuyến huyện (1.246/1.663 biên chế).
| Chỉ tiêu khám chữa bệnh tỉnh Hà Giang năm 2012 |
Kế hoạch 2012 |
Thực hiện 2012 |
Tỷ lệ hoàn thành (%) |
So sánh với 2011 (%) |
| Tổng số giường bệnh tuyến tỉnh |
740 |
740 |
100,00% |
+0,75% |
| Tổng số giường bệnh tuyến huyện |
1.425 |
1.425 |
100,00% |
+9,19% |
| Số lần khám bệnh tuyến huyện |
97.969 |
202.736 |
206,94% |
-14,81% |
| Bệnh nhân điều trị nội trú tuyến tỉnh |
23.000 |
- |
- |
+6,84% |
| Bệnh nhân điều trị nội trú tuyến huyện |
69.200 |
- |
- |
+9,90% |
| Bệnh nhân điều trị ngoại trú tuyến huyện |
165.748 |
- |
- |
+16,81% |
| Công suất sử dụng giường bệnh tuyến tỉnh |
>85% |
86,58% |
101,85% |
-0,58% |
| Công suất sử dụng giường bệnh tuyến huyện |
>85% |
81,58% |
95,97% |
-0,57% |
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu thực địa, cấu trúc các biến số và công cụ điều tra. Nhóm nghiên cứu gồm 10 điều tra viên độc lập thuộc Văn phòng Sở Y tế tỉnh Hà Giang, được tập huấn thống nhất quy trình phỏng vấn trực tiếp người bệnh và cán bộ y tế tại 6 khoa lâm sàng. Các tiêu chuẩn chọn mẫu người bệnh nội trú (từ 18 đến 60 tuổi, nằm viện tối thiểu 3 ngày, sức khỏe tâm thần ổn định) và người nhà người bệnh đảm bảo tính chính xác của dữ liệu phản hồi.
Hệ thống chỉ số nghiên cứu được phân định thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Các chỉ số mô tả thực trạng khám bệnh (lần khám/ngày, kê đơn ngoại trú, tỷ lệ chuyển viện, lần khám/giờ làm việc), điều trị nội trú (lượt điều trị/ngày, công suất sử dụng giường, ngày điều trị trung bình, điều trị kết hợp y học cổ truyền) và mức độ hài lòng của người bệnh, cán bộ y tế.
- Nhóm 2: Các chỉ số yếu tố ảnh hưởng về cơ sở vật chất (diện tích sàn/quy định), tài chính (cơ cấu nguồn thu: ngân sách, viện phí, bảo hiểm y tế), nguồn nhân lực (tỷ lệ cán bộ/biên chế, tỷ lệ đại học/nhân viên khác, tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ, trình độ chuyên môn) và mức độ hài lòng về quản lý, chế độ đãi ngộ.
- Nhóm 3: Các chỉ số đánh giá kết quả can thiệp sau 10 tháng năm 2013 (năng suất khám bệnh của bác sĩ, kết quả giám sát chăm sóc người bệnh toàn diện, thay đổi tỷ lệ kết hợp y học cổ truyền, thay đổi tỷ lệ hài lòng của 410 người bệnh và mức độ hiểu biết nhiệm vụ của lãnh đạo khoa phòng).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 tổng hợp dữ liệu hồi cứu thực trạng giai đoạn 2010 - 2012 và kết quả đánh giá can thiệp 10 tháng năm 2013 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang.
| Chỉ tiêu hoạt động chuyên môn |
Năm 2010 |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
| Tổng số lần khám bệnh (lượt) |
112.257 |
- (đạt 105,3% so với 2010) |
- (đạt 89,0% so với 2011) |
| Tổng số lượt điều trị nội trú (lượt) |
20.984 |
- |
- |
| Ngày điều trị trung bình (ngày) |
7,8 (đạt 97,5% so với 2009) |
7,8 (đạt 100,0% so với 2010) |
7,8 (đạt 99,2% so với 2011) |
| Tỷ lệ xuất viện (lượt / %) |
19.890 (94,5%) |
94,3% |
94,5% |
| Công suất sử dụng giường bệnh (%) |
109% |
102% |
101% |
| Số người bệnh chuyển tuyến (người) |
293 |
226 |
250 |
| Số ca tử vong tại bệnh viện (ca) |
32 |
28 |
17 |
Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong giai đoạn trước can thiệp cho thấy:
- Cơ sở vật chất và mặt bằng diện tích xây dựng tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng còn chật hẹp, chưa đáp ứng quy chuẩn theo Quyết định 365/2007/QĐ-BXD.
- Cơ cấu nhân lực thiếu hụt, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa sâu, dược sĩ đại học và điều dưỡng có trình độ đại học; tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ chưa đạt định mức theo mục tiêu của Bộ Y tế.
- Cơ chế tài chính còn phụ thuộc lớn vào thu viện phí và bảo hiểm y tế; nguồn ngân sách cấp theo chỉ tiêu giường bệnh chưa bù đắp đủ nhu cầu chi thường xuyên và đầu tư phát triển kỹ thuật.
- Khảo sát sự hài lòng ban đầu ghi nhận người bệnh còn phàn nàn về thủ tục hành chính tiếp đón, thời gian chờ đợi khám bệnh và điều kiện vệ sinh phòng bệnh.
Kết quả sau 10 tháng triển khai can thiệp năm 2013 ghi nhận:
- Cải thiện bố trí mặt bằng khoa khám bệnh và các khoa điều trị nội trú; nâng cấp trang thiết bị y tế hiện đại phục vụ chẩn đoán.
- Nâng cao nhận thức và hiểu biết về chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ Trưởng, Phó khoa/phòng theo Quy chế bệnh viện.
- Tăng năng suất công tác khám bệnh của bác sĩ và hiệu suất làm việc của điều dưỡng; nâng cao tỷ lệ thực hiện đúng quy trình chăm sóc người bệnh toàn diện tại các khoa lâm sàng.
- Tăng tỷ lệ điều trị kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền; giảm tỷ lệ chuyển tuyến không cần thiết.
- Tỷ lệ hài lòng chung của người bệnh ($n = 410$) và người nhà người bệnh về tinh thần thái độ, thủ tục hành chính và chất lượng phục vụ có sự chuyển biến tích cực so với trước can thiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa phương pháp luận đánh giá chất lượng bệnh viện công lập thông qua việc tích hợp mô hình phân tích SWOT với bộ chỉ số quản trị bệnh viện thực chứng. Nghiên cứu xác lập khung phân tích đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào (cơ sở vật chất, nhân lực, tài chính), quá trình vận hành (thực hiện quy chế chuyên môn, quy trình điều dưỡng, kiểm tra giám sát) và kết quả đầu ra (chỉ số chuyên môn, mức độ hài lòng của khách hàng và nhân viên).
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh số liệu về hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2010 - 2012 và 10 tháng năm 2013. Luận án chỉ ra các điểm nghẽn cụ thể về nguồn nhân lực, phân bố diện tích buồng bệnh và quy trình hành chính tại một bệnh viện tuyến cuối cấp tỉnh miền núi. Đồng thời, nghiên cứu chứng minh tính khả thi của bộ giải pháp can thiệp kết hợp bao gồm: tổ chức đào tạo lại quy chế chuyên môn; thi tay nghề điều dưỡng; tăng cường vai trò kiểm tra định kỳ của Ban Giám đốc và các phòng chức năng; mở rộng kết hợp y học cổ truyền.
Các kiến nghị, giải pháp được đề xuất gồm:
- Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng dự án nâng cấp bệnh viện lên quy mô 500 giường bệnh nhằm giải quyết tình trạng thiếu diện tích buồng bệnh và quá tải cục bộ.
- Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, thu hút và đào tạo cán bộ y tế có trình độ chuyên môn cao; chú trọng đào tạo kỹ năng quản trị bệnh viện cho cán bộ lãnh đạo khoa, phòng.
- Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Quy chế bệnh viện, quy tắc ứng xử và quy trình chăm sóc người bệnh toàn diện.
- Tối ưu hóa nguồn tài chính thông qua việc mở rộng các danh mục kỹ thuật mới, tăng cường liên kết chuyên môn và chỉ đạo tuyến theo Đề án 1816.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được tác giả tự xác định bao gồm:
- Nghiên cứu được triển khai tại một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trong khung thời gian 10 tháng can thiệp của năm 2013, chưa theo dõi được tác động dài hạn của các can thiệp quy mô lớn (như xây dựng cơ bản).
- Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, đề tài chưa đi sâu đánh giá chất lượng kỹ thuật chuyên môn sâu và kết quả điều trị lâm sàng trên từng mặt bệnh cụ thể, mà tập trung chủ yếu vào khía cạnh cung ứng dịch vụ y tế và quản lý bệnh viện.
- Thu thập dữ liệu định tính thông qua thảo luận nhóm có thể chịu ảnh hưởng từ trạng thái tâm lý hoặc sự e ngại của người bệnh và cán bộ y tế trong quá trình trao đổi.
Hướng nghiên cứu tiếp cần tập trung:
- Mở rộng đánh giá dài hạn sau khi hoàn thành dự án mở rộng 500 giường bệnh.
- Đánh giá sâu hiệu quả can thiệp chuyên môn kỹ thuật theo từng chuyên khoa mũi nhọn (ngoại khoa, sản khoa, hồi sức cấp cứu).
- Nghiên cứu chi tiết cơ cấu chi phí - hiệu quả trong điều kiện thực hiện tự chủ tài chính hoàn toàn tại bệnh viện tuyến tỉnh miền núi.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Y tế công cộng, Quản lý y tế và Quản lý bệnh viện trong việc thiết kế nghiên cứu can thiệp không đối chứng và áp dụng phân tích SWOT trong y tế.
- Các nhà quản lý bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tham khảo mô hình cải tiến quy trình đón tiếp, thi tay nghề điều dưỡng và kiểm tra quy chế nội bộ.
- Sở Y tế và các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương trong việc hoạch định chính sách đầu tư phát triển mạng lưới khám chữa bệnh và phân bổ ngân sách y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang có vị trí và quy mô như thế nào trong hệ thống y tế địa phương?
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang là bệnh viện hạng II trực thuộc Sở Y tế, quy mô 400 giường bệnh (giai đoạn 2010 - 2013) và được phê duyệt dự án nâng cấp lên 500 giường bệnh vào năm 2015. Bệnh viện đóng vai trò là cơ sở tuyến cuối của tỉnh, tiếp nhận điều trị cho người dân từ 11 huyện, thành phố trong tỉnh và huyện Bảo Lâm (tỉnh Cao Bằng), nằm cách thủ đô Hà Nội 330 km.
2. Khung lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong luận án được xây dựng dựa trên mô hình nào?
Luận án áp dụng mô hình phân tích SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) thông qua việc phân tích 6 khía cạnh vận hành: sản phẩm (dịch vụ KCB), quá trình (quy trình cung ứng), khách hàng (người bệnh), phân phối (khả năng tiếp cận dịch vụ), tài chính (chi phí, giá dịch vụ, nguồn thu) và quản lý (điều hành, kiểm tra, giám sát).
3. Cỡ mẫu và đối tượng khảo sát định lượng người bệnh được xác định như thế nào?
Cỡ mẫu điều tra người bệnh là 410 bệnh nhân nội trú (tính toán dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ với $p = 0,5$, $d = 0,05$), phân bổ ngẫu nhiên đơn tại 6 khoa có lưu lượng lớn: Khoa Nội (105 bệnh nhân), Khoa Ngoại (105 bệnh nhân), Khoa Nhi (50 bệnh nhân), Khoa Sản (50 bệnh nhân), Khoa Truyền nhiễm (50 bệnh nhân) và Khoa Y học cổ truyền (50 bệnh nhân). Đối tượng chọn là người bệnh hoặc người nhà trực tiếp chăm sóc, từ 18 đến 60 tuổi, đã nằm viện tối thiểu từ 3 ngày trở lên hoặc chuẩn bị xuất viện.
4. Các giải pháp can thiệp chính được thực hiện trong nghiên cứu gồm những gì?
Nghiên cứu can thiệp tập trung vào 4 nhóm nội dung: (1) Nâng cấp cơ sở vật chất và bổ sung trang thiết bị y tế theo quy mô 500 giường; (2) Tăng nguồn thu từ kỹ thuật mới và quản lý tài chính hiệu quả; (3) Tăng cường năng lực thông qua tuyển dụng theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV, sắp xếp lại nhân lực, tập huấn y đức/giao tiếp, đào tạo lại Quy chế bệnh viện, tổ chức thi tay nghề điều dưỡng và tiếp nhận kỹ thuật Đề án 1816; (4) Kiện toàn Hội đồng thuốc và điều trị, duy trì đoàn kiểm tra Quy chế bệnh viện định kỳ hàng tuần.
5. Kết quả chuyên môn giai đoạn 2010 - 2012 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang thể hiện các chỉ số cơ bản nào?
Trong giai đoạn 2010 - 2012, ngày điều trị trung bình ổn định ở mức 7,8 ngày/người bệnh; tỷ lệ xuất viện đạt 94,3% - 94,5%; công suất sử dụng giường bệnh duy trì ở mức cao từ 101% đến 109%; số lượt chuyển tuyến dao động từ 226 đến 293 trường hợp/năm và số ca tử vong tại bệnh viện giảm từ 32 ca (năm 2010) xuống 17 ca (năm 2012).
Kết luận
Luận án của tác giả Lương Viết Thuần phản ánh thực trạng hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Giang giai đoạn 2010 - 2012 với đặc trưng công suất sử dụng giường bệnh cao và áp lực phục vụ địa bàn vùng núi rộng lớn. Thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng bằng mô hình SWOT, nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại về cơ sở vật chất, cơ cấu nhân lực và quy trình tổ chức quản trị. Việc triển khai các giải pháp can thiệp đồng bộ về đào tạo quy chế, chuẩn hóa tay nghề điều dưỡng, cải tiến sắp xếp khoa phòng và tăng cường giám sát trong 10 tháng năm 2013 đã mang lại các chuyển biến bước đầu về năng suất hoạt động chuyên môn và mức độ hài lòng của người bệnh.