chương 1, cho thấy những cơ sở thực tiễn của đề tài. Hoạt động du lịch tâm linh tại Trung tâm Thánh mẫu Tà Pao. Chương này trình bày chi tiết các thông tin về Trung tâm Thánh mẫu Tà Pao. Trong đó mô tả chương trình du lịch nhỏ lẻ và chương trình hành hương hàng tháng tại trung tâm.
Trong chương này, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát về những tác động tích cực và tiêu cực của trung tâm Thánh Mẫu Tà Pao đối với địa phương sở tại. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động du lịch tâm linh tại Trung tâm Thánh mẫu Tà Pao Trong chương cuối này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích điểm mạnh, điểm yếu, thách thức và cơ hội của trung tâm. Từ đó, đề xuất những kiến nghị, đóng góp cho Trung tâm Thánh mẫu Tà Pao cùng với chính quyền địa phương để có những chính sách, giải pháp tốt hơn , ngày càng thu hút khách du lịch về đây, không những thu hút những người Công Giáo trong nước và ngoài nước, mà còn giới thiệu cho 9 những người ngoại đạo biết được những giá trị thiêng liêng của Trung tâm Thánh mẫu Tà Pao để họ đến đây càng nhiều, nhằm mục đích đóng góp vào sự phát triển kinh tế, du lịch cho địa phương Tánh Linh, Bình Thuận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Du lịch và du lịch tâm linh Hiện nay, khi nhắc đến du lịch, khái niệm này đã quá quen với chúng ta, người ta sẽ liên tưởng ngay đến việc di chuyển đi đến một địa điểm mới mẻ nào đó để tìm hiểu, tận hưởng về toàn bộ các giá trị mà nơi đến đem lại. Hiện nay, du lịch nổi lên như 1 hiện tượng xã hội, bất kể các thành phần nào trong xã hội cũng đếu có nhu cầu đi tham quan du lịch, không phân biệt giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội…Nắm bắt nhu cầu xã hội ấy, nhiếu quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới đã chủ trương, đưa tiềm năng du lịch là một trong những mục tiêu kinh tế hàng đầu đề nhằm thúc đầy kinh tế đi lên, nhờ vào các lợi nhuận mà du lịch đem lại cho khu vực, địa phương đó. Do đó, chính quyền các cấp tại khu vực, địa phương sẽ luôn giải pháp, phương hướng thu hút du khách, phát triển kinh tế.
Có những trường hợp, du lịch sẽ phải đi liền với điều kiện kinh tế. Vì khi nói đến du lịch, một người được đi du lịch thì ít nhiều họ cũng phải chuẩn bị chi phí cho chuyến du lịch đó, cho dù là chuyến du lịch giá rẻ, bình dân, ít ra thì cũng phải có chi phí cho phương tiện di chuyển, nơi ở, ăn uống Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, người ta không cần quá nhiều chi phí liên quan mà chỉ cần có tinh thần, tâm hồn để thực hiện, mặc dù có thể không có nhiều nơi, không cần chuẩn bị nơi ở sang trọng, thức ăn đặc biệt, đó là khi người ta du lịch bằng suy nghĩ, tinh thần thiêng liêng thông qua hình thức du lịch tâm linh Chúng ta có thể thấy rất nhiều trường hợp đi hành hương , họ không mang theo trong người nhiều tiền bạc, chi phí mà chỉ mang trong người cái tinh thần hướng đạo, hướng về những giá trị tinh thần mà họ mong muốn đến được nơi có đấng linh 11 thiêng để họ được chiêm ngưỡng, cầu nguyện là họ đã mãn nguyện, hài lòng. Đó cũng là một phần quan trọng trong định nghĩa du lịch tâm linh của đề tài Khi nhắc đến tâm linh, chúng ta nghĩ ngay đến đời sống tinh thần thiêng liêng, những suy nghĩ, nhận thức của con người, cái vô thể trừu tượng Theo tác giả Vũ Tự Lập (1994, tr 10) cho rằng: “Tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng đó”.
Và Nguyễn Đăng Duy (1996, tr14) “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống của tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại những biểu tưởng hình ảnh, ý niệm” (được trích dẫn bởi Trần Thị Hồng Thoa, 2018, tr. 11) Trong cuốn sách Tâm linh Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, 2007 thì tâm linh là linh cảm về hiện tượng vô hình có ảnh hưởng đến đời sống con người cảm nhận được qua sống trải nghiệm lâu dài của một cộng đồng người, linh cảm về cái thiêng tác động đến sống chết của con người… Theo tác giả Đoàn Thị Thùy Trang (2010) thì du lịch tâm linh là tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống, là thăm viếng bằng tâm trí, trái tim, là nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết của du khách hướng đến cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh. Du lịch tâm linh góp phần nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về giá trị tâm linh và giá trị chân thực của cuộc sống hiện tại.” Đồng thời theo tác giả Hồ Minh Tống (2018) thì du lịch văn hóa tâm linh có nghĩa là du lịch, thưởng ngoạn phong cảnh những nơi linh thiêng mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo, qua đó con người nhận ra những giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp.” “Thuật ngữ tôn giáo – religion xuất phát từ tiếng Latinh là legere, relegere có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh thiên nhiên.
Sau khi đạo Kitô xuất hiện, thuật ngữ “religion” mới trở thành 1 thuật ngữ chung dùng để chỉ hai tôn giáo là Công giáo và Tin lành. Về sau, với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra ngoài châu 12 Âu, thuật ngữ “religion” được dùng để chỉ cho mọi hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới” (Đặng Nghiêm Vạn, 2005, tr 25 -28) Những người có niềm tin vào Tôn giáo, họ sẽ được học, được dạy những điều tốt đẹp của tôn giáo của họ, từ đó trong suy nghĩ của họ sẽ cố gắng sống 1 phần giống với tấm gương của đấng ling thiêng của họ. Rồi sau đó, họ áp dụng những điều tốt đẹp đó vào trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày của họ. Kết hợp giữa khái niệm du lịch và tâm linh, đây là 2 khái niệm cũng là 2 nhu cầu quan trọng trong đời sống tinh thần của chúng ta, chúng ta cũng có nhiều định nghĩa về du lịch tâm linh, xét về nội dung và bản chất thì du lịch tâm linh tập trung chính dựa trên yếu tố về tinh thần, không phải là yếu tố vật chất.
Nhu cầu của những người tham gia vào các chuyến du lịch tâm linh sẽ tìm về các địa điểm linh thiêng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh ở các nơi như: chùa, nhà thờ, đền, khu di tích lịch sử linh thiêng, cảnh quan…Khi đến những nơi này, du khách sẽ tham gia trực tiếp, chứng kiến trực tiếp các hoạt đông tại đây thông qua hành động cúng bái, cầu nguyện, xin khấn, từ thiện, thiền… Du lịch tâm linh là một hình thức biểu hiện của du lịch văn hóa. Các giá trị văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo là nền tảng quan trọng để hình thành và phát triển hoạt động du lịch tâm linh. Mục đích của khách du lịch tâm linh sẽ có nhiều thang bậc khác nhau nhưng sẽ có điểm chung là sự tôn kính , niềm tin với một lực lượng siêu nhiên gắn liền với một không gian văn hóa tín ngưỡng nhất định. Trải nghiệm của họ tại các không gian linh thiêng sẽ có khả năng mang lại ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, sự hiểu biết hoặc gia tăng niềm tin.
Du lịch tâm linh góp phần thỏa mãn cảm xúc, cũng cố, nâng cao đức tin thông qua giá trị tâm linh mà họ nhận được. Hành hương và hành hương Công giáo Hành hương là một trong các loại hình của du lịch tâm linh. Nếu du lịch tâm linh hướng tới việc tìm hiểu, trải nghiệm cho cả những người không cùng niềm tin 13 tôn giáo, có thể cho khách du lịch thì du lịch hành hương đặc biệt phải thực hành tín ngưỡng , đó là hoạt động quan trọng và bắt buộc của chuyến đi. Hành hương là một phong tục tôn giáo xuất hiện từ rất sớm trong các tôn giáo cổ và có lẽ mang nhiều ý nghĩa khác nhau.
Nói chung, hành hương là một cuộc lữ hành của các tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau về nơi được cho là thánh thiêng để kính viếng, cúng bái…Đây là cách mà một tín đồ bày tỏ lòng thành của mình đối với một tôn giáo. Trong Phật giáo, hành hương là một nghi thức thắp hương sau đó đi nhiễu xung quanh điện phật và xung quang tháp hoặc chỉ là việc thắp hương để lễ bái trước tượng bồ tát, tượng phật… Đây chính là khái niệm nguyên thủy nhất của hành hương. Khái niệm về hành hương Công giáo: Theo linh mục Giuse Phạm Đình Ngọc ( được trích dẫn bới Cát Đằng, 2021) thì: trong tiếng La-tinh cổ, “người hành hương”, pelegrīnus, thường được dịch là “người khách lạ”, “người lữ hành”. Thật ra, pelegrīnus là từ được tạo nên bởi hai thành tố: “per” nghĩa là “ngang qua”, và “ager” nghĩa là “cánh đồng”.
Điều này mang đến cho người hành hương nhiều thách đố và hy vọng. Thách đố vì trong hành hương đòi người ta phải dấn thân, phải dám băng qua những khó khăn, chẳng hạn về địa lý hay tâm lý. Hy vọng vì đích đến là nơi người hành hương có thể gặp gỡ tha nhân và Thiên Chúa. Hành hương (Pilgrimage) có một lịch sử tôn giáo từ thời xa xưa.
Khi đó người Do Thái hành hương về Đền Thờ đầu tiên của họ tại Giêrusalem (được xây 957 TCN) để mừng ba lễ lớn: Vượt Qua (Passover), Lễ Ngũ Tuần (Pentecost), và Lễ Lều (Festival of Ingathering). Trên đường đi, họ hát những bài hành hương, hoặc thánh vịnh. Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, Kitô giáo nhanh chóng vượt ra khỏi vùng Palestine đến mọi miền trên thế giới, nhất là vùng trời Châu Âu. Từ đó nhiều đoàn người hành hương về Đất Thánh để đi lại những nơi Chúa Giêsu đã hiện diện.
Các cuộc hành hương có một lịch sử lâu đời, có trước lịch sử Giáo hội và có lẽ trước cả lịch sử dân Israel trong Cựu ước. Các cuộc hành hương không chỉ xuất hiện trong Kitô giáo: nhiều tôn giáo khác đã và vẫn còn thực 14 hiện những cuộc hành hương.