Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu và phát triển du lịch sinh thái Măng Đen tại tỉnh Kon Tum" do sinh viên Lê Thu Trọng (ngành Việt Nam học, Khoa Du lịch và Việt Nam học, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Thị Duyên Hà vào tháng 09/2021. Đề tài được triển khai trong bối cảnh du lịch sinh thái đang trở thành xu hướng phát triển bền vững, vừa khai thác giá trị kinh tế vừa gắn liền với trách nhiệm bảo vệ môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa. Khu du lịch Măng Đen (thuộc huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) sở hữu nền tảng tài nguyên tự nhiên và nhân văn đặc thù với độ che phủ rừng đạt khoảng 80%, khí hậu mát mẻ quanh năm, độ cao trung bình khoảng 1.200 m so với mực nước biển, được ví như "Đà Lạt thứ hai" của vùng Bắc Tây Nguyên. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên tại đây còn bộc lộ nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và quản lý, đòi hỏi một công trình khảo sát, đánh giá thực trạng khách quan nhằm đề xuất các định hướng khai thác tương xứng.
Tác giả xác định rõ các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số cụ thể trong văn bản như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Trên cơ sở lý luận về du lịch sinh thái đồng thời vận dụng kiến thức đã học để áp dụng nghiên cứu du lịch sinh thái và thực trạng hoạt động du lịch sinh thái ở Măng Đen từ khi đưa vào khai thác; từ đó xác định phương thức khai thác hợp lý, kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển du lịch bền vững.
- Góp phần quảng bá rộng rãi hình ảnh của khu du lịch sinh thái Măng Đen trong nước và quốc tế; đẩy mạnh sự phát triển của tỉnh Kon Tum nói chung và Măng Đen nói riêng.
- Đề xuất một số giải pháp phục vụ phát triển du lịch sinh thái Măng Đen.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái.
- Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển khu du lịch sinh thái Măng Đen, tìm hiểu những tồn tại cần giải quyết.
- Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng khu du lịch, đề xuất phương hướng và một số giải pháp phát triển loại hình du lịch sinh thái tại khu du lịch sinh thái Măng Đen.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng và hiện trạng khai thác hoạt động du lịch tại khu du lịch sinh thái Măng Đen.
- Phạm vi không gian: Tập trung trong phạm vi khu du lịch sinh thái Măng Đen với tổng diện tích tự nhiên là 148,07 km² thuộc huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tiến trình hình thành, phát triển thành khu du lịch sinh thái tại Măng Đen, tập trung vào số liệu thực trạng giai đoạn 2016 – 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực về du lịch và du lịch sinh thái từ các tổ chức quốc tế và văn bản pháp luật hiện hành. Tác giả trích dẫn định nghĩa du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Liên hiệp quốc tế Các tổ chức Lữ hành Chính thức (IUOTO), nghiên cứu của L.I. Pirogionic (1985), Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, cùng quan điểm tiếp cận từ góc độ kinh tế và sản phẩm của Ngô Thị Diệu An, Nguyễn Thị Oanh Kiều (2014) và Trần Thị Thúy Lan, Nguyễn Đình Quang (2005). Đối với thuật ngữ du lịch sinh thái (ecotourism), văn bản trích dẫn định nghĩa ban đầu của Hector Ceballos-Lascurain (1987), định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Úc (1994), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Hoa Kỳ (1998), định nghĩa tại Khoản 16 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, và khuôn khổ Chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái (1999) do Phạm Trung Lương (2002) hệ thống hóa.
Về khung phân tích cốt lõi, tác giả áp dụng nguyên tắc và đặc trưng du lịch sinh thái theo Phạm Trung Lương (2002):
- Bốn nguyên tắc cơ bản: (1) Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường và tạo ý thức bảo tồn; (2) Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái; (3) Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; (4) Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
- Các đặc trưng cơ bản: Tính đa thành phần, tính đa ngành, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí, tính giáo dục cao về môi trường, góp phần bảo tồn tài nguyên - duy trì đa dạng sinh học, và thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm bốn phương pháp chính:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Khai thác và xử lý nguồn dữ liệu thứ cấp từ các ấn phẩm khoa học, báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum, quy hoạch xây dựng của Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Kon Tum và cổng thông tin điện tử huyện Kon Plông.
- Phương pháp khảo sát: Tiến hành phát 100 phiếu điều tra thăm dò ý kiến du khách và thu về 80 phiếu hợp lệ để tổng hợp các chỉ số về thị hiếu, chi tiêu, độ tuổi, và mức độ hài lòng đối với môi trường tự nhiên cũng như dịch vụ tại Măng Đen.
- Phương pháp so sánh tổng hợp: Đối chiếu các chỉ số tài nguyên, khí hậu, địa hình của Măng Đen với các địa bàn khác trong khu vực Tây Nguyên (như Đà Lạt - Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn trực tiếp du khách, hộ dân địa phương làm du lịch, và cán bộ chuyên trách ngành du lịch (trực tiếp là ông Đỗ Văn Minh - Trưởng phòng Quản lý Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum).
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản pháp lý và báo cáo chuyên ngành: Nghị quyết số 720/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Công văn số 1952/UBND-KTN ngày 07/11/2011 của UBND tỉnh Kon Tum; Nghị định số 18-HĐBT ngày 17/01/1992; "Báo cáo du lịch Măng Đen" (2021) và "Tiềm năng huyện Kon Plông" (2021) của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kon Tum; khảo sát thực địa của Tổ chức Động thực vật Thế giới (FFI) phối hợp Trung tâm Nước Việt Xanh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 tập trung làm rõ hai nội dung lớn: hệ thống lý thuyết về ngành du lịch và cơ sở thực tiễn của vùng nghiên cứu. Trong phần lý luận, tác giả phân loại du lịch theo tài nguyên (nhân văn, tự nhiên), mục đích chuyến đi (nghỉ dưỡng, tham quan, khám phá, lễ hội), phạm vi lãnh thổ, đặc điểm địa lý, lứa tuổi, và hình thức tổ chức. Loại hình "du lịch xanh" được nhấn mạnh gồm hai nhánh chính: du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng - chữa bệnh. Tác giả phân tích cụ thể 4 nguyên tắc và 9 đặc trưng vận hành của du lịch sinh thái, chỉ rõ vai trò của loại hình này trong việc cân bằng lợi ích kinh tế - xã hội với lợi ích bảo tồn tự nhiên.
Ở phần cơ sở thực tiễn, văn bản trình bày tổng quan vùng Tây Nguyên gồm 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) với diện tích khoảng 54,7 nghìn km², địa hình cao nguyên xếp tầng từ 500 m đến 1.500 m, thuộc khối Trường Sơn Nam. Tác giả lược thuật lịch sử hình thành địa bàn Tây Nguyên qua các giai đoạn: từ thời vua Lê Thánh Tông lập nước Nam Bàn (1471), thời chúa Nguyễn, thời nhà Nguyễn (vua Tự Đức lập sơn phòng năm 1863), thời kỳ Pháp thuộc (thành lập tòa Công sứ Kon Tum năm 1907, thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương - PMSI năm 1946), quy chế Hoàng triều Cương thổ, cho đến sau năm 1975. Điểm nhấn thực tiễn là bản sắc văn hóa của 47 dân tộc anh em, văn hóa nương rẫy, nhà Rông, nhà Dài, sinh hoạt văn hóa nhà mồ, sử thi Tây Nguyên, và Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Riêng tỉnh Kon Tum (diện tích 9.676,5 km²) có bề dày lịch sử hình thành gắn với làng đồng bào Ba Na ven sông Đăk Bla ("Kon" là làng, "Tum" là hồ/nước), vị trí chiến lược tiếp giáp Quảng Nam, Gia Lai, Quảng Ngãi và chung đường biên giới 280,7 km với Lào và Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y.
Chương 2: Tiềm năng, hiện trạng hoạt động du lịch ở Măng Đen
Chương 2 trình bày chi tiết các dữ liệu thực địa, tiềm năng tài nguyên và thực trạng hoạt động du lịch tại Măng Đen. Về địa giới, ngày 16/07/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 720/NQ-UBTVQH14 (hiệu lực từ 01/09/2019) thành lập thị trấn Măng Đen trên cơ sở toàn bộ 148,07 km² diện tích tự nhiên và 6.913 người của xã Đăk Long cũ. Toàn huyện Kon Plông có 9 xã, thị trấn với 27.357 hộ dân (tính đến tháng 03/2021), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (Xê Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong, Hre) chiếm trên 80%. Địa hình khu vực mang tính phân hóa sâu sắc: 80% diện tích là núi cao trên 1.000 m với độ dốc lớn hơn 29%; 2.000 – 3.000 ha cao nguyên đỉnh bằng độ dốc 10% tại xã Măng Cành với tầng đất đỏ bazan thích hợp cây công nghiệp; còn lại là địa hình thung lũng dọc các hệ thống sông Đăk Ring (dài 15 km), Đăk Rơ Man (dài 12 km), và Đăk S'Nghé (dài 60 km).
Về khí hậu và thủy văn, Măng Đen có nhiệt độ trung bình năm 18 – 20°C (nhiệt độ thấp nhất xuống 6 – 8°C, nhiệt độ tháng cao nhất là tháng 5 đạt 22,5 – 25°C, tháng 12 dưới 15°C); lượng mưa trung bình năm đạt 2.310 mm với khoảng 157 ngày mưa/năm; độ ẩm dao động 78 – 87%. Địa bàn sở hữu tiềm năng nước ngầm khoáng nóng cấp C2 đạt 100.000 m³/ngày ở độ sâu 60 – 300 m, với 9 điểm nước nóng có thể khai thác chữa bệnh. Về sinh vật, rừng tự nhiên có diện tích 98,6 ha (chiếm 96% diện tích khảo sát chuyên đề, rừng thông chiếm 3%). Kết quả điều tra của Tổ chức FFI và Trung tâm Nước Việt Xanh xác nhận sự hiện diện của hơn 500 cá thể Chà vá chân xám (loài cực kỳ nguy cấp trong Sách đỏ IUCN), cầy vằn (loài ăn thịt nguy cấp), vượn má vàng Trung Bộ, gấu ngựa, cu li nhỏ, rái cá, cùng các loài chim đặc hữu như khướu Kon Ka Kinh, khướu Ngọc Linh. Thực vật ghi nhận các loài quý hiếm thuộc Nhóm IA theo Nghị định 18-HĐBT gồm Thông Đà Lạt, Thông đỏ, Thông tre; Nhóm IIA gồm Trầm hương, Pơ mu, Du xam (tại ô tiêu chuẩn số 30 vùng Konturằn ven sông Đăk S'Nghé), cùng các loài gỗ quý cẩm lai, trắc, giáng hương quả lớn, sâm Ngọc Linh, sâm dây, và đương quy.
Hiện trạng hạ tầng và sản phẩm du lịch gắn với các danh thắng: thác Pa Sỳ, hồ Đăk Ke, hồ Toong Đam, hồ Toong Zơri, hồ Ly Leng, hồ Zin Lha, chùa Khánh Lâm, tượng Đức Mẹ Măng Đen, làng văn hóa Kon Pring, và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Kết quả khảo sát 80 phiếu hợp lệ phản ánh cơ cấu du khách chủ yếu ở độ tuổi trẻ và trung niên, mục đích chính là nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên, di chuyển chủ yếu bằng ô tô/xe máy cá nhân; tuy nhiên mức chi tiêu bình quân còn thấp và cơ sở vật chất - kỹ thuật lưu trú còn thiếu tính đồng bộ. Tác giả chỉ ra những rào cản trong hoạt động diễn giải môi trường và sự tham gia của người dân bản địa vào chuỗi giá trị du lịch còn mang tính tự phát.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái Măng Đen
Trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, Chương 3 xác định mục tiêu đưa Măng Đen trở thành vùng du lịch sinh thái cấp quốc gia theo tinh thần Công văn số 1952/UBND-KTN của UBND tỉnh Kon Tum. Định hướng chiến lược tập trung vào việc đa dạng hóa sản phẩm dựa trên thế mạnh sinh thái tự nhiên kết hợp trải nghiệm văn hóa truyền thống và nông nghiệp công nghệ cao. Tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp cụ thể:
- Tăng cường hợp tác kêu gọi vốn đầu tư: Đẩy nhanh tiến độ các dự án quy hoạch hạ tầng giao thông dọc Quốc lộ 24, xúc tiến dự án thuê 8.000 ha rừng tại xã Hiếu (Lâm trường Măng La) để xây dựng khu du lịch sinh thái, và triển khai quy hoạch sân bay taxi Măng Đen đã được Chính phủ chấp thuận.
- Giải pháp về môi trường: Kiểm soát chặt chẽ việc xả thải tại các điểm tham quan (hồ Đăk Ke, thác Pa Sỳ), duy trì độ che phủ rừng trên 80%, bảo vệ nghiêm ngặt các sinh cảnh tự nhiên của loài Chà vá chân xám và các loài thực vật quý hiếm.
- Giải pháp về quy hoạch xây dựng: Thực hiện đúng các phân khu quy hoạch đã được UBND tỉnh Kon Tum phê duyệt, gồm khu trung tâm thương mại và du lịch sinh thái hồ Đăk Ke (75 ha), 3 khu du lịch sinh thái Măng Đen (270 ha), cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống (55 ha), khu trung tâm huyện lỵ (70 ha), và 4 phân khu Đông - Tây - Nam - Bắc (250 ha).
- Giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Bồi dưỡng kiến thức du lịch sinh thái, kỹ năng ngoại ngữ và nghiệp vụ hướng dẫn viên cho lao động địa phương.
- Thu hút cộng đồng địa phương tham gia: Nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng tại làng văn hóa Kon Pring, khuyến khích các hộ đồng bào Mơ Nâm, Xê Đăng tham gia cung ứng dịch vụ ẩm thực, dệt thổ cẩm, biểu diễn cồng chiêng, giảm áp lực khai thác rừng tự nhiên.
- Tiếp thị và xúc tiến quảng bá: Xây dựng bộ nhận diện du lịch Măng Đen, liên kết tour tuyến với các trung tâm du lịch miền Trung (Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An) và tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây qua cửa khẩu Bờ Y.
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm: Kết hợp du lịch tham quan thác - hồ với du lịch thể thao mạo hiểm leo núi, du lịch tâm linh (chùa Khánh Lâm, tượng Đức Mẹ), du lịch trải nghiệm nông trại công nghệ cao và thưởng thức ẩm thực cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa hệ thống chỉ số địa lý, tài nguyên, quy hoạch của Măng Đen từ các nguồn tài liệu chính thức, cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể phục vụ công tác nghiên cứu:
| Hạng mục chỉ số |
Thông số kỹ thuật / Dữ liệu văn bản ghi nhận |
| Quy mô diện tích thị trấn |
148,07 km² (theo Nghị quyết 720/NQ-UBTVQH14 năm 2019) |
| Dân số huyện Kon Plông |
27.357 hộ (tính đến tháng 03/2021; >80% là đồng bào dân tộc thiểu số) |
| Độ cao trung bình |
Khoảng 1.200 m so với mực nước biển |
| Nhiệt độ & Lượng mưa |
Nhiệt độ TB 18 – 20°C; lượng mưa TB 2.310 mm/năm (157 ngày mưa/năm) |
| Nguồn nước khoáng nóng |
9 điểm tại Kon Plông; trữ lượng cấp C2 đạt 100.000 m³/ngày ở độ sâu 60 – 300 m |
| Động vật nguy cấp (FFI khảo sát) |
>500 cá thể Chà vá chân xám; ghi nhận cầy vằn, khướu Kon Ka Kinh, khướu Ngọc Linh |
| Thực vật đặc hữu Nhóm IA |
Thông Đà Lạt, Thông đỏ, Thông tre (theo Nghị định 18-HĐBT) |
| Thực vật quý hiếm Nhóm IIA |
Trầm hương, Pơ mu, Du xam (ô tiêu chuẩn số 30 vùng Konturằn) |
| Quy hoạch 03 khu DLST |
Tổng 270 ha (Thác Đăk Ke - Lộ Ba: 95 ha; Hồ Toong Đam: 90 ha; Thác Pa Sỳ: 85 ha) |
| Dự án thuê rừng xã Hiếu |
Quy mô khoảng 8.000 ha thuộc Lâm trường Măng La |
Về mặt học thuật và thực tiễn, đóng góp của đề tài thể hiện ở việc kế thừa và cập nhật các nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu du lịch cộng đồng Kon Plông của Đặng Thanh Nam năm 2013 và giải pháp marketing của Đỗ Thị Ngọc Diễm năm 2019) sang giai đoạn sau khi thị trấn Măng Đen chính thức được thành lập. Khóa luận gắn kết lý thuyết 4 nguyên tắc du lịch sinh thái của Phạm Trung Lương với dữ liệu quản lý thực tế của địa phương, đưa ra hệ thống giải pháp 7 nhóm mang tính khả thi nhằm hỗ trợ công tác quản trị điểm đến tại Kon Plông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu: Tác giả chỉ rõ việc thực hiện khóa luận diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 bùng phát phức tạp (thời điểm tháng 09/2021), gây trở ngại lớn cho công tác điều tra thực địa dài ngày. Do điều kiện giãn cách, cỡ mẫu khảo sát xã hội học còn hạn chế ở mức 100 phiếu phát ra và 80 phiếu thu về hợp lệ. Bên cạnh đó, văn bản chưa đi sâu lượng hóa sức chứa sinh thái (carrying capacity) của từng điểm danh thắng cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát đối với các thị trường khách quốc tế và các doanh nghiệp lữ hành khi hoạt động du lịch phục hồi hoàn toàn; nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá ngưỡng chịu tải môi trường tại các khu rừng phòng hộ Thạch Nham và Lâm trường Măng La; phân tích mô hình liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch sinh thái trang trại.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Du lịch, Việt Nam học, Địa lý kinh tế, Quản lý tài nguyên môi trường và Quản trị dịch vụ du lịch. Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:
- Hệ thống trích dẫn pháp lý và số liệu quy hoạch chi tiết các phân khu du lịch (75 ha, 270 ha, 8.000 ha) được phê duyệt bởi UBND tỉnh Kon Tum.
- Báo cáo kiểm kê tài nguyên sinh học quý hiếm đối chiếu theo Nghị định 18-HĐBT và số liệu khảo sát linh trưởng của FFI tại huyện Kon Plông.
- Bộ công cụ khảo sát ý kiến du khách (mẫu phiếu điều tra tại phụ lục) phục vụ việc đánh giá thực trạng cơ sở vật chất - kỹ thuật và tâm lý tiêu dùng của du khách tại vùng cao nguyên.
Câu hỏi thường gặp
1. Thị trấn Măng Đen được thành lập vào thời gian nào và có quy mô hành chính ban đầu ra sao?
Thị trấn Măng Đen được thành lập theo Nghị quyết số 720/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 16/07/2019 (có hiệu lực từ ngày 01/09/2019) trên cơ sở chuyển nguyên trạng toàn bộ 148,07 km² diện tích tự nhiên và 6.913 người của xã Đăk Long, trở thành thị trấn huyện lỵ của huyện Kon Plông.
2. Khảo sát của Tổ chức Động thực vật Thế giới (FFI) tại địa bàn ghi nhận số liệu nổi bật nào về loài linh trưởng nguy cấp?
Báo cáo kết quả của Tổ chức FFI và Trung tâm Nước Việt Xanh phát hiện quần thể hơn 500 cá thể Chà vá chân xám tại huyện Kon Plông. Đây là loài động vật được xếp vào hạng cực kỳ nguy cấp trong Danh lục đỏ IUCN, cùng với Vườn quốc gia Kon Ka Kinh tạo thành vùng phân bố tập trung quan trọng bậc nhất của loài này.
3. Quy hoạch chi tiết 03 khu du lịch sinh thái Măng Đen của tỉnh Kon Tum có diện tích bao nhiêu và phân bổ như thế nào?
Theo quy hoạch chi tiết được UBND tỉnh Kon Tum phê duyệt, 03 khu du lịch sinh thái Măng Đen có tổng diện tích 270 ha, bao gồm: Khu du lịch sinh thái thác Đăk Ke và thác Lộ Ba (95 ha); Khu du lịch sinh thái hồ Toong Đam, Toong Zơri, Toong Pô (90 ha); và Khu du lịch sinh thái cảnh quan, leo núi suối và thác Pa Sỳ (85 ha).
4. Khóa luận ghi nhận những loài thực vật cổ xưa quý hiếm nào thuộc Nhóm IA theo Nghị định 18-HĐBT?
Các loài thực vật cổ xưa mang tính đặc hữu được tìm thấy tại các ô tiêu chuẩn và lâm trường Măng La gồm có Thông Đà Lạt (gặp ở ô tiêu chuẩn số 4 và rừng phòng hộ Thạch Nham), Thông đỏ (vùng Đăk Sô, lâm trường Măng La), và Thông tre (mọc rải rác tại lâm trường Măng La, Măng Cành I, Măng Cành II).
5. Mẫu khảo sát điều tra thực tế của khóa luận được thực hiện với quy mô và phương thức như thế nào?
Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, tác giả đã tiến hành phát ra 100 phiếu điều tra và thu về 80 phiếu hợp lệ từ các nhóm du khách, kết hợp với phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum để thu thập thông tin về chất lượng phục vụ và thị hiếu tiêu dùng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thu Trọng đã phác thảo một bức tranh toàn diện và trung thực về tiềm năng tự nhiên, nhân văn cũng như hiện trạng khai thác du lịch tại Măng Đen, tỉnh Kon Tum. Thông qua việc tổng hợp hệ thống tư liệu quy hoạch chính thống và số liệu khảo sát thực tế, công trình đã làm rõ các lợi thế về khí hậu, cảnh quan, đa dạng sinh học cùng những điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật và cơ chế tham gia của cộng đồng bản địa. Bảy nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp các định hướng thiết thực nhằm thúc đẩy khu du lịch sinh thái Măng Đen phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế địa phương và bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên.