Chương 1: Một cái nhìn khái quát về William Faulkner và tiểu thuyết dòng ý thức Trong chương này, chúng tôi giới thiệu đôi nét về nhà văn đại tài William Faulkner và quá trình viết tiểu thuyết theo kỹ thuật tự sự dòng ý thức của ông, đặc biệt ở hai tác phẩm Nắng tháng tám, Khi tôi nằm chết. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng giới thuyết sơ lược về khái niệm, nguồn gốc và những đặc điểm chính của tự sự dòng ý thức. Chương 2: Đặc điểm tự sự dòng ý thức trong sáng tác của William Faulkner: vấn đề kết cấu, nhân vật và ngôn ngữ Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm của tự sự dòng ý thức thông qua kỹ thuật xây dựng kết cấu, hệ thống nhân vật và ngôn ngữ qua cách xây dựng đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật. Từ đó thấy được những thủ pháp nghệ thuật độc đáo và cảm hứng tư tưởng mạnh mẽ mà nhà văn muốn thể hiện cho 11 người đọc.
Chương 3: Đặc điểm tự sự dòng ý thức trong sáng tác của William Faulkner: vấn đề không – thời gian và tổ chức trần thuật Chương này, chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật biểu hiện tự sự dòng ý thức trong văn xuôi William Faulkner qua việc tạo dựng không – thời gian và cách tổ chức trần thuật (điểm nhìn và giọng điệu trần thuật). Từ đó, ta sẽ thấy được những trăn trở của nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm của mình. Đồng thời sẽ soi sáng tâm thức lưu đày, cô đơn, bế tắc của các nhân vật để người đọc thấy rõ những góc khuất của xã hội Mỹ hiện đại cũng như giá trị nhân văn của các tác phẩm văn xuôi của William Faulkner. MỘT CÁI NHÌN KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT DÒNG Ý THỨC VÀ WILLIAM FAULKNER Tự sự dòng ý thức được xem là một thủ pháp, một kỹ thuật sáng tác hiện đại phổ biến của các trào lưu, khuynh hướng văn học ở thế kỷ XX, đặc biệt là khuynh hướng văn xuôi nội quan.
Kỹ thuật xuất phát từ phương Tây và đã có những thành công rực rỡ qua những cuốn tiểu thuyết của Virginia Woolf, James Joyce, Joseph Conrad, Robert Louis Stevenson và cả nhà văn William Faulkner. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, châu Á cũng đã chứng kiến sự thể nghiệm thành công của những sáng tác văn học dòng ý thức trong các phẩm của những nhà văn như Vương Mông, Kawabata Yasunari, … 1. Khuynh hướng văn học nội quan và kỹ thuật dòng ý thức Trước diễn biến lịch sử thế giới biến động ở đầu thế kỷ XX, ý thức con người đã bị ảnh hưởng không ít, khiến nhiều hoạt động nhận thức thế giới quan thay đổi, đặc biệt là tình hình văn hóa nhân loại, trong đó văn học là loại hình nghệ thuật tiên phong. Để khai thác tâm lý bản thân con người trước những biến động lịch sử, từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà văn đã đi tìm các khả năng mới của nghệ thuật độc thoại nội tâm.
Đến đầu thế kỷ XX, hình thức “độc thoại nội tâm” được đẩy lên cao thành kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết, góp phần quan trọng trong việc hình thành xu hướng sáng tạo mới – khuynh hướng văn xuôi nội quan, nhằm tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm ở con người. Khuynh hướng văn học nội quan – một trong những khuynh hướng cơ bản của chủ nghĩa hiện đại 1. Khái niệm khuynh hướng văn học nội quan Nội quan là một thuật ngữ chỉ một hình thức sáng tác văn học, chủ yếu là văn xuôi được khởi điểm từ đầu thế kỷ XX, nhằm tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng của con người. Theo học thuyết Jungian của Carl Jung, hướng nội và hướng ngoại đều hướng về năng lượng tâm linh.
Nếu năng lượng tâm linh luôn tìm về thế giới nội tại cho 13 những tư tưởng, cảm xúc, ảo tưởng, mơ ước, khao khát bên trong con người thì đó là hướng nội. Ngược lại, năng lượng tâm linh luôn tìm cảm giác cho những phạm trù nói trên ở thế giới bên ngoài là hướng ngoại. Khuynh hướng văn học nội quan là sự chuyển hướng tự sự từ việc chú trọng ngoại quan vào việc quan sát bên trong, tức nội quan, tập trung khai thác thế giới nội tâm, cõi vô thức nhằm khẳng định sự tác động bản năng đến đời sống ý thức con người. Khác hẳn phương pháp sáng tác của tiểu thuyết hiện thực thế kỷ XIX, khuynh hướng văn học nội quan được xem là một cuộc cách mạng trong văn học nghệ thuật hay còn gọi là “phong trào nghệ thuật tiên phong của thế kỷ XX”, bên cạnh các trào lưu, phương pháp sáng tác khác của chủ nghĩa hiện đại ở các quốc gia phương Tây và Nam Mỹ.
Có thể xem văn xuôi nội quan là một trong những hình thức quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa hiện đại thế kỷ XX, bởi bản chất chủ nghĩa hiện đại là chủ trương cắt đứt với các sáng tác lãng mạn của văn thơ trước đó và phê phán chủ nghĩa hiện thực truyền thống. Theo những nghệ sĩ thuộc chủ nghĩa hiện đại, ở chủ nghĩa hiện thực chủ yếu mô phỏng và lệ thuộc vào thực tại. Với họ, nghệ thuật phải mổ xẻ cuộc sống và thoát khỏi cuộc sống như một sự hoài nghi, phản ứng lại đối với các quan niệm độc tôn, tuyệt đối hóa các nguyên lý văn hóa, tư tưởng thành đại tự sự ý thức. Cũng bởi, khi tiểu thuyết hiện thực phê phán của thế kỷ XIX ra đời, điển hình như Tấn trò đời của Balzac, người ta tưởng như tiểu thuyết đã đạt đến đỉnh cao của mình và không có gì phải cải tiến, cách tân nữa.
Với cấu trúc hướng ngoại, tiểu thuyết hiện thực phê phán đạt đến đỉnh cao cấu trúc trần thuật, phản ánh trung thành khách quan hiện thực xã hội. Nhà văn được ví như là “người biết tuốt” về những diễn biến câu chuyện, có khả năng điều khiển cấu trúc tiểu thuyết. Thế nhưng, với chủ nghĩa hiện đại, cái nhìn xã hội, quan điểm nghệ thuật của nhà văn đã có sự khác biệt, dẫn đến việc đổi mới cấu trúc của tiểu thuyết. Nhà văn đương thời không tố cáo xã hội bằng con đường trực diện như nhà văn hiện thực phê phán.
Nhà văn của chủ nghĩa hiện đại cho rằng họ không chỉ thể hiện những kiến thức “biết tuốt” của mình đối với hiện thực khách quan, mà đôi khi phải khám phá nội tâm, cái tôi cá nhân, những trăn trở đến dằn vặt trong dòng chảy của ý thức trước số phận 14 của con người. Từ đó xuất hiện mô hình cấu trúc hướng nội hay còn gọi là hình thức văn xuôi nội quan ở đầu thế kỷ XX. Thực chất, xu hướng thăm dò nội tâm của cái tôi cá nhân đã xuất hiện từ khi chủ nghĩa lãng mạn ra đời. Cấu trúc hướng nội là thành quả sáng tạo của chủ nghĩa lãng mạn nhưng nó nhanh chóng được các phương pháp sáng tác khác tiếp thu, mở ra một miền đất mới với tiềm năng vô hạn cho tiểu thuyết.
Tất nhiên, cấu trúc hướng nội lúc này tồn tại song song với cấu trúc hướng ngoại. Và từ thế kỷ XIX, nhiều nhà văn hiện thực lớn cũng đã sử dụng cấu trúc hướng nội đan xen với hướng ngoại. Điển hình như trường hợp của nhà văn vĩ đại người Nga F. Dostoievsky với những cuốn tiểu thuyết hiện thực đầy kịch tính nội tâm như Tội ác và trừng phạt, Chàng ngốc, Anh em Karramazov, … Tuy nhiên, những nhà văn hiện thực ấy dùng cấu trúc hướng nội để nghiên cứu, thể hiện con người một cách sâu sắc, đa dạng hơn, còn đối với các nhà văn hiện đại chủ nghĩa lại dùng chúng để thể hiện tư tưởng về sự tuần hoàn vô nghĩa của kinh nghiệm đời sống, sự bất lực của cá nhân trong việc đối lập với số phận của mình.
Họ quan niệm việc chú trọng thăm dò nội tâm là cách thức mở rộng biên độ hiện thực, đi vào hiện thực bên trong và chiều sâu tâm hồn – một hiện thực mang tính tinh thần. Xét từ góc độ kỹ thuật tiểu thuyết, liên quan chặt chẽ đến văn xuôi nội quan trước hết là kỹ thuật độc thoại nội tâm. Đây là một kỹ thuật mới so với kỹ thuật đối thoại là đặc trưng ban đầu của tiểu thuyết ngoại quan. Kỹ thuật này được xem là công cụ đắc lực để khám phá nội tâm con người.
Ở đầu thế kỷ XX, nhà văn Pháp Marcel Proust (1871 – 1922) đã tiên phong trong kỹ thuật dòng ý thức qua bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất, mở ra hướng đi mới cho tiểu thuyết hiện đại. Theo Proust, từ một sự việc hoặc một cảm giác bất chợt ở thời hiện tại, nhà văn nhớ lại một kỷ niệm quá khứ trong một không gian và thời gian vô định, lôi cuốn người đọc vào dòng chảy của đời sống tâm lý. Việc ra đời khuynh hướng văn xuôi nội quan, điển hình tiểu thuyết dòng ý thức, theo Nawale: “Lối viết dòng chảy ý thức có mục đích nhằm đưa ra một văn bản tương đương với dòng chảy ý thức của một nhân vật hư cấu. Nó tạo ra một ấn tượng là độc giả đang nghe trộm dòng kinh nghiệm ý thức trong tâm trí của nhân vật, qua đó tiếp cận được một cách thân mật với suy nghĩ 15 riêng tư của họ.
Có thể nói, tiểu thuyết dòng ý thức – một khuynh hướng sáng tác chính của chủ nghĩa hiện đại ra đời đã chứng minh sự chuyển hướng tự sự từ việc tập trung cái nhìn ngoại quan hướng vào nội quan, khai thác thế giới nội tâm, cõi vô thức ngự trị nhằm khẳng định sự tác động không nhỏ của bản năng lên đời sống ý thức của con người. Cơ sở ra đời khuynh hướng văn học nội quan Những thập niên đầu thế kỷ XX, thế giới đã xảy ra nhiều biến động lớn, ảnh hưởng đến đời sống con người tạo ra ở nhiều lĩnh vực, tình hình văn hóa nhân loại, trong đó văn học là loại hình tiên phong. Đầu tiên, thế kỷ XX mang trong mình nhiều cuộc chiến tranh lớn và những biến cố chính trị ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử loài người. Các cường quốc Âu Mỹ bước vào thời kỳ của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và tư bản lũng đoạn.
Đó cũng là thời kỳ lan rộng của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, các chủ nghĩa cực đoan.