Tổng quan nghiên cứu

Ninh Bình là vùng đất cổ với bề dày lịch sử ngàn năm, quy tụ quy mô dân số khoảng 92 vạn người, trong đó cộng đồng người Mường chiếm hơn 200.000 người. Riêng tại xã vùng cao Cúc Phương, huyện Nho Quan, địa bàn có tổng diện tích tự nhiên 12.373,51 ha, người Mường chiếm trên 90% trong tổng số 3.189 nhân khẩu (theo thống kê năm 2017). Mặc dù sở hữu kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc, không gian văn hóa bản địa nơi đây đang đối diện với nhiều biến đổi sâu sắc khi số lượng nhà sàn truyền thống trên toàn huyện chỉ còn khoảng 20 chiếc và sự thưa vắng của các nghệ nhân cao tuổi ngày càng gia tăng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát, sưu tầm và giải mã hệ thống giá trị nội dung cùng hình thức nghệ thuật của dân ca Mường tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Mục tiêu cụ thể là phục dựng diện mạo nguyên sơ của các làn điệu, phân loại các thể loại ca hát dân gian, đồng thời đánh giá vai trò của dân ca trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Mường vùng đệm rừng nguyên sinh.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại xã Cúc Phương trong không gian giao thoa giữa văn hóa Mường cổ và đồng bằng Bắc Bộ, với các mốc khảo sát thực địa hoàn thành vào năm 2019. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống tư liệu chuẩn xác với 44 tác phẩm dân ca được ký âm và phiên dịch, đóng góp trực tiếp vào công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và phát triển kinh tế du lịch văn hóa bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết loại hình học văn học dân gian và lý thuyết nhân học văn hóa để giải mã các hiện tượng ca xướng truyền thống. Các góc nhìn lý thuyết này cho phép xem xét tác phẩm nghệ thuật ngôn từ trong mối liên hệ mật thiết với môi trường sinh thái nhân văn và phong tục tập quán tộc người.

Bên cạnh đó, luận văn triển khai nghiên cứu dựa trên 4 khái niệm then chốt:

  • Tính nguyên hợp văn hóa dân gian: Sự kết hợp hữu cơ giữa lời ca, giai điệu âm nhạc, vũ đạo và nghi lễ tâm linh.
  • Diễn xướng dân gian: Quá trình tác phẩm tồn tại và biến đổi trực tiếp qua hành vi thực hành của nghệ nhân trong đời sống cộng đồng.
  • Không gian văn hóa Mường ngoài: Đặc trưng địa bàn cư trú giáp ranh của người Mường tại Ninh Bình, phân biệt với Mường giữa ở Thanh Hóa hay Mường tang ở Hòa Bình.
  • Tính dị bản truyền miệng: Cơ chế sàng lọc, bổ sung và lưu truyền các bài ca qua trí nhớ dân gian khi không có hệ thống chữ viết riêng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng cỡ mẫu gồm 44 bài dân ca Mường thu thập trực tiếp tại thực địa xã Cúc Phương. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi ngẫu nhiên theo mục đích kết hợp chọn mẫu chuyên gia, tập trung phỏng vấn sâu các nghệ nhân am hiểu văn hóa như nghệ nhân Đinh Văn Minh, nghệ nhân Đinh Văn Định cùng hơn 50 thành viên thuộc Câu lạc bộ hát dân ca Mường xã Cúc Phương. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính chuẩn xác, nguyên bản của ca từ tiếng Mường cổ và nắm bắt trọn vẹn bối cảnh diễn xướng sinh động.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành bao gồm:

  • Phương pháp điền dã văn học: Tiến hành ghi âm, phỏng vấn sâu, ghi chép lời ca tại các thôn bản như thôn Sấm 3, thôn Nga 3 từ năm 2016 đến năm 2019.
  • Phương pháp phân loại và thống kê: Hệ thống hóa 44 tác phẩm theo từng tiểu loại chức năng để lập bảng cơ cấu tỷ lệ.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Mổ xẻ chi tiết thi pháp, cấu trúc ngữ âm, hình tượng nghệ thuật và ý nghĩa biểu đạt của lời ca.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa cho thấy hệ thống dân ca Mường tại xã Cúc Phương có diện mạo hoàn chỉnh với 4 tiểu loại chính. Số liệu thống kê từ 44 bài ca sưu tầm được phân bổ cụ thể:

  • Hát Thường rang (Rằng thường): Gồm 22 bài, chiếm tỷ trọng cao nhất với 50%. Đây là thể loại giữ vai trò chủ đạo, xuất hiện trong mọi nghi lễ mừng nhà mới, đám cưới, lễ tết và sinh hoạt gia đình.
  • Hát Giao duyên: Gồm 13 bài, chiếm 30%, phản ánh tình yêu đôi lứa của nam nữ thanh niên với cấu trúc diễn xướng 6 chặng linh hoạt.
  • Hát Mo (nghi lễ tang ma, cúng tế): Gồm 6 bài, chiếm 13%, gắn liền với tập tục ma chay và tín ngưỡng thờ đa thần như thờ đá, thờ mó nước, thờ cây si.
  • Hát Bộ mẹng: Gồm 3 bài, chiếm 7%, thể hiện hình thức đối đáp ứng khẩu tinh tế trong các đám tiệc rượu cần.

Về mặt nội dung, dân ca Mường Cúc Phương thể hiện sâu sắc ba bình diện: ca ngợi con người lao động bền bỉ trong săn bắt và khai hoang nương rẫy qua những câu hát "cầm rựa phát tan đồi hoang"; bộc lộ tình cảm gia đình hiếu nghĩa sâu sắc như "công cha như núi ngất trời"; và phản kháng mạnh mẽ các hủ tục ép duyên của chế độ nhà Lang phong kiến xưa kia.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu phân bố thể loại của 44 bài dân ca Mường tại Cúc Phương phản ánh chính xác bức tranh sinh hoạt văn hóa của cộng đồng địa phương. Tỷ lệ 50% của Hát Thường rang cùng 30% của Hát Giao duyên cho thấy nhu cầu giao tiếp, gắn kết tình cảm và trao truyền đạo đức cộng đồng luôn chiếm vị trí trung tâm trong đời sống thường nhật. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ tròn về cơ cấu thể loại và bảng ma trận đối sánh không gian diễn xướng giữa nương rẫy, nhà sàn và lễ hội đầu xuân.

So với các vùng Mường cổ Hòa Bình thuộc nhóm nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động, người Mường tại Cúc Phương thuộc nhóm Mường ngoài. Do sống đan xen và có giao lưu kinh tế với người Kinh từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 16, dân ca nơi đây có sự đan xen độc đáo: vừa bảo lưu cấu trúc thơ tự do Mường cổ, vừa tiếp thu thể thơ lục bát và các biện pháp tu từ của văn học người Kinh. Tuy nhiên, tính chất nguyên hợp của văn hóa dân gian vẫn thể hiện rõ qua sự kết hợp nhịp nhàng giữa lời ca mộc mạc, tiếng sáo, đàn môi và nhịp cồng chiêng trầm ấm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản:

  • Số hóa di sản âm nhạc: Tiến hành ghi âm, ghi hình chất lượng cao và phiên âm chuẩn hóa toàn bộ 44 bài dân ca cùng lời kể của các nghệ nhân lão thành. Đặt chỉ tiêu hoàn thành 100% cơ sở dữ liệu số trong vòng 12 tháng, do Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình phối hợp cùng Phòng Văn hóa huyện Nho Quan thực hiện.
  • Kiện toàn và nhân rộng mô hình câu lạc bộ: Mở rộng quy mô Câu lạc bộ hát dân ca Mường xã Cúc Phương từ 50 thành viên hiện nay lên hơn 100 thành viên trong vòng 2 năm. Đặt mục tiêu thu hút tối thiểu 30% thanh thiếu niên tham gia học hát và biểu diễn cồng chiêng.
  • Đưa dân ca vào trường học: Xây dựng chuyên đề văn học địa phương giảng dạy tại 27 trường trung học cơ sở và 27 trường tiểu học trên địa bàn huyện Nho Quan. Tổ chức các buổi giao lưu định kỳ 1 quý 1 lần giữa học sinh và nghệ nhân dân gian.
  • Liên kết phát triển du lịch sinh thái: Tích hợp chương trình biểu diễn dân ca và diễn xướng hát Sắc bùa vào các tour du lịch cộng đồng tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cúc Phương. Phấn đấu tăng thu nhập dịch vụ du lịch bản địa thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 2020 đến 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên biệt:

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn hóa học, Văn học dân gian: Sử dụng tư liệu 44 bài ca và hệ thống lý luận trong luận văn làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về folklore dân tộc thiểu số.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách tại Ninh Bình: Vận dụng số liệu khảo sát và các nhóm giải pháp để xây dựng đề án bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng và dân ca Mường cấp tỉnh.
  • Các đơn vị lữ hành và nhà phát triển du lịch bền vững: Khai thác tư liệu về phong tục, lễ hội Khuống mùa và nghệ thuật diễn xướng dân ca để xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa Cúc Phương.
  • Giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn và Lịch sử địa phương: Sử dụng các bài ca dao, dân ca Mường Cúc Phương làm học liệu trực quan, sinh động trong các tiết học ngoại khóa và giáo dục di sản.

Câu hỏi thường gặp

  • Dân ca Mường ở Cúc Phương có điểm gì khác biệt so với dân ca Mường tại Hòa Bình hay Thanh Hóa? Người Mường Cúc Phương thuộc nhóm Mường ngoài, có lịch sử giao lưu lâu đời với người Kinh vùng đồng bằng. Vì vậy, dân ca nơi đây có sự hòa trộn độc đáo giữa cấu trúc ngôn từ tiếng Mường cổ với thể thơ lục bát truyền thống, tạo nên âm hưởng vừa phóng khoáng vừa uyển chuyển.

  • Thể loại dân ca nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong công trình nghiên cứu? Hát Thường rang chiếm tỷ lệ áp đảo với 50% tổng số bài sưu tầm (22 trên tổng số 44 bài). Lý do là vì Thường rang có phạm vi ứng dụng rất rộng, từ việc ca ngợi lao động, răn dạy đạo lý trong gia đình cho đến mừng nhà mới và sinh hoạt cộng đồng.

  • Hát giao duyên của người Mường tại Cúc Phương được tổ chức theo quy trình nào? Hát giao duyên diễn ra theo 6 bước tuần tự gồm hát chào, hát hỏi, hát đối, hát họa, hát huê tình và hát ra về. Hình thức này đòi hỏi khả năng ứng khẩu linh hoạt của nam nữ thanh niên, thường diễn ra vào mùa xuân hoặc dịp cưới hỏi.

  • Tác giả luận văn đã thu thập kho tàng 44 bài dân ca bằng cách nào? Tác giả đã trực tiếp thực hiện phương pháp điền dã văn học trong nhiều năm, tiếp xúc và ghi âm phỏng vấn sâu hai nghệ nhân chủ nhiệm câu lạc bộ là ông Đinh Văn Minh và ông Đinh Văn Định, kết hợp tài liệu chép tay của hơn 50 nghệ nhân địa phương.

  • Những thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn dân ca Mường hiện nay là gì? Thách thức lớn nhất là xu hướng hiện đại hóa khiến giới trẻ ít mặn mà với dân ca cổ, trong khi số nghệ nhân am hiểu tiếng Mường cổ ngày càng giảm sút và toàn huyện chỉ còn khoảng 20 ngôi nhà sàn truyền thống đủ điều kiện làm không gian diễn xướng nguyên bản.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng toàn diện diện mạo kho tàng 44 bài dân ca Mường tại xã Cúc Phương với 4 thể loại chính gồm Thường rang, Giao duyên, Mo và Bộ mẹng.
  • Công trình khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của dân ca Mường trong việc phản ánh hiện thực lao động, ngợi ca đạo hiếu gia đình và thắt chặt tình làng nghĩa xóm.
  • Đóng góp khoa học then chốt là chỉ ra nét độc đáo của vùng văn hóa Mường ngoài tại Ninh Bình, nơi có sự giao thoa đặc sắc giữa các yếu tố bản địa và văn minh châu thổ sông Hồng.
  • Hệ thống 4 giải pháp đề xuất mở ra lộ trình khả thi nhằm gắn kết công tác bảo tồn di sản với phát triển du lịch sinh thái giai đoạn 2020 đến 2025.
  • Nghiên cứu là nguồn học liệu giá trị, kêu gọi sự chung tay của cộng đồng học thuật và các nhà quản lý văn hóa trong việc gìn giữ mạch nguồn văn hóa truyền thống của đồng bào Mường Cúc Phương.