Luận Văn Thạc Sĩ Về Dân Ca Mường Ở Xã Cúc Phương, Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay dân ca mường ở xã cúc phương huyện nho quan tỉnh ninh bình, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

126
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN TỘC MƯỜNG VÀ DÂN CA MƯỜNG Ở XÃ CÚC PHƯƠNG HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH

1.1. Khái quát nền văn hóa dân gian Ninh Bình

1.2. Ninh Bình - dấu ấn một vùng văn hóa

1.3. Vài nét về huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình

1.4. Vài nét về xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

1.5. Người Mường Việt Nam và người Mường ở xã Cúc Phương huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình

1.5.1. Người Mường ở Việt Nam

1.5.2. Người Mường ở xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

1.6. Khái quát về dân ca Mường ở xã Cúc Phương huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình

1.6.1. Sự hình thành dân ca Mường xã Cúc Phương

1.6.2. Diện mạo dân ca Mường xã Cúc Phương

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG DÂN CA MƯỜNG Ở XÃ CÚC PHƯƠNG, HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

2.1. Phản ánh đời sống tình cảm của người Mường

2.2. Ca ngợi con người lao động

2.3. Phản ánh tâm tư tình cảm giữa các thế hệ trong gia đình, làng xóm

2.4. Dân ca tình yêu lứa đôi

2.5. Phản ánh phong tục tập quán và tín ngưỡng của người Mường

2.5.1. Tập tục ma chay và tín ngưỡng dân gian

2.5.2. Tập tục cưới hỏi

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT DÂN CA MƯỜNG Ở XÃ CÚC PHƯƠNG, HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

3.1. Biện pháp nghệ thuật

3.2. Thời gian và không gian nghệ thuật

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám Phá Dân Ca Mường Tại Xã Cúc Phương Ninh Bình

Dân ca Mường là một phần quan trọng trong văn hóa Mường tại xã Cúc Phương, Ninh Bình. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp thiên nhiên mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo. Dân ca Mường phản ánh đời sống, tâm tư tình cảm của người dân nơi đây, từ những bài hát ru con đến những điệu hát trong lễ hội. Việc khám phá và bảo tồn dân ca Mường là cần thiết để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

1.1. Tổng Quan Về Dân Ca Mường Tại Xã Cúc Phương

Dân ca Mường tại xã Cúc Phương mang đậm bản sắc văn hóa của người Mường. Những bài hát này thường được trình bày trong các dịp lễ hội, phản ánh đời sống sinh hoạt và tâm tư của người dân. Các nghệ nhân địa phương vẫn duy trì và truyền dạy những bài hát này cho thế hệ trẻ.

1.2. Ý Nghĩa Của Dân Ca Trong Đời Sống Người Mường

Dân ca không chỉ là hình thức nghệ thuật mà còn là phương tiện truyền tải các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Mường. Nó giúp kết nối các thế hệ và giữ gìn bản sắc văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

II. Những Thách Thức Trong Việc Bảo Tồn Dân Ca Mường

Mặc dù dân ca Mường có giá trị văn hóa cao, nhưng việc bảo tồn đang gặp nhiều thách thức. Sự phát triển của xã hội hiện đại và sự thay đổi trong lối sống đã khiến nhiều bài hát dân ca bị lãng quên. Việc thiếu sự quan tâm từ cộng đồng và chính quyền cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Sự Lãng Quên Của Thế Hệ Trẻ

Thế hệ trẻ hiện nay ít có cơ hội tiếp xúc với dân ca Mường. Nhiều bài hát truyền thống không còn được hát trong các dịp lễ hội, dẫn đến nguy cơ mai một văn hóa.

2.2. Thiếu Hỗ Trợ Từ Chính Quyền

Chính quyền địa phương chưa có nhiều chính sách hỗ trợ cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa Mường. Cần có các chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức về giá trị của dân ca.

III. Phương Pháp Bảo Tồn Dân Ca Mường Hiệu Quả

Để bảo tồn dân ca Mường, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc tổ chức các lớp học, hội thảo và lễ hội dân ca sẽ giúp nâng cao nhận thức và khôi phục lại những bài hát đã bị lãng quên. Sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng trong quá trình này.

3.1. Tổ Chức Các Lớp Học Dân Ca

Các lớp học dân ca có thể được tổ chức tại các trường học và cộng đồng. Điều này giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về văn hóa Mường và tham gia vào việc bảo tồn.

3.2. Tổ Chức Lễ Hội Dân Ca Định Kỳ

Lễ hội dân ca không chỉ là dịp để trình diễn mà còn là cơ hội để người dân giao lưu, học hỏi và truyền dạy cho nhau những bài hát truyền thống.

IV. Ứng Dụng Dân Ca Mường Trong Du Lịch Ninh Bình

Dân ca Mường có thể trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo tại Ninh Bình. Việc kết hợp giữa du lịchvăn hóa Mường sẽ thu hút du khách và tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng. Các tour du lịch có thể bao gồm trải nghiệm hát dân ca, tìm hiểu về phong tục tập quán của người Mường.

4.1. Phát Triển Du Lịch Văn Hóa

Du lịch văn hóa giúp du khách hiểu rõ hơn về văn hóa Mường. Các hoạt động như tham gia vào lễ hội dân ca sẽ tạo ra trải nghiệm đáng nhớ cho du khách.

4.2. Tạo Ra Các Sản Phẩm Du Lịch Đặc Trưng

Các sản phẩm du lịch như đĩa CD dân ca, sách hướng dẫn về dân ca Mường có thể được phát triển để phục vụ du khách, đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Dân Ca Mường

Tương lai của dân ca Mường phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của cộng đồng và chính quyền. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà là của toàn xã hội. Cần có những hành động cụ thể để đảm bảo rằng dân ca Mường sẽ không bị lãng quên.

5.1. Tăng Cường Nhận Thức Cộng Đồng

Cần có các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức về giá trị của dân ca Mường trong cộng đồng.

5.2. Hợp Tác Giữa Các Tổ Chức

Sự hợp tác giữa các tổ chức văn hóa, giáo dục và du lịch sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Mường.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay dân ca mường ở xã cúc phương huyện nho quan tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN TỘC MƯỜNG VÀ DÂN CA MƯỜNG Ở XÃ CÚC PHƯƠNG HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH 1. Khái quát nền văn hóa dân gian Ninh Bình 1. Ninh Bình - dấu ấn một vùng văn hóa Sông núi thường là biểu tượng của một vùng quê như: Núi Nùng sông Nhị( Hà Nội), sông Lam núi Hồng( Nghệ An), sông Hương núi Ngự( Huế), Núi Ấn sông Trà( Quảng Ngãi), non Côi sông Vị( Nam Định), núi Thúy sông Vân( Ninh Bình). Sông vân, một chi nhánh của sông Đáy có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa của nhân dân Ninh Bình, dòng sông này chia đôi thị xã Ninh Bình.

Thị xã Ninh Bình được hình thành ở cửa nước ngã ba sông Đáy và sông Vân. Từ xa xưa ngã ba sông này đã là chợ cá và là bến Nứa. Từ chợ Cá này đã phát triển thành một trung kinh tế và chính trị văn hóa của một vùng, rồi một tỉnh. Vùng đất này có nhiều huyền tích và huyền thoại.

Sông Vân còn gọi là Vân Sàng gắn với truyền thuyết về Lê Hoàn khi thắng Tống trở về, Dương Vân Nga đã đem một đoàn cung nữ ra đón mở tiệc giao hoan với nhà vua ở trên dòng sông. Cái tên Vân Sàng( giường mây) đã ra đời từ đó. Về sau nhân dân đã lập đền Thượng Thờ Lê Hoàn và Dương Vân Nga ở ven sông và ca ngợi bằng đôi câu đối: Khước Tống khái ca lưu thử địa Tiếp Đinh chính thống thụ vu thiên. Núi Thúy còn gọi là núi Non Nước.

Một quả núi nhỏ ở ngã ba sông, đã chứng kiến dấu tích của nhiều thời kỳ lịch sử. Ngay từ thời Lý Nhân Tông vào năm Quảng Hựu thứ 7(1091) ông cha ta đã xây tháp Linh Tế trên núi, trải qua mưa nắng tháp bị đổ, đến thời Trần Hiển Tông, nhà sư Trị Nhu đã xây lại tháp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Linh Tế ở trên đỉnh núi, sáu năm mới xong (1337-1342). Trương Hán Siêu đã cho biết: “Tháp cao bốn tầng, đêm tỏa hào quang, người ở xa, gần đến trông thấy rõ”. Trương Hán Siêu cũng là người đổi tên núi Băng Sơn thành Dục Thúy Sơn (Chim trả tắm).

Núi Thúy, sông Vân là biểu tượng của Ninh Bình, còn nói rộng ra đây là một vùng “tứ giác nước” được tạo bởi sông Đáy, sông Hoàng Long và sông Vân. Ninh Bình ngày nay có 6 huyện là Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, và thị xã là Ninh Bình, Tam Điệp, trong đó thị xã Ninh Bình là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh. Vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và động vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp), thuộc thời kỳ đồ đá cũ cách ta khoảng 30 vạn năm ở Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại cách ta khoảng 30 nghìn năm.

Một số hang động ở Tràng An như hang Áng Nồi, hang Mòi, hang Bói, có di tích của con người từ 2 nghìn đến 9 nghìn năm. Động người Xưa (Cúc Phương) có di chỉ cư trú của con người thời văn hóa Hòa Bình cách ngày nay khoảng 7665 năm. Di tích của con người thời văn hóa Hòa Bình còn tìm thấy tại một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan. Sau thời kỳ văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo cổ học cho rằng vùng đồng bằng ven biển Thanh Hóa, Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam.

Di chỉ Đồng Vườn (Yên Thành, Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng (di chỉ Gò Trũng có niên đại C14:4700 năm cách ngày nay). Cư dân di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hóa đồ đồng cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu cách ta 3. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê - Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô ở Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông.

Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần…Thế kỷ XVI - XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm. Bên cạnh văn hóa của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có “Văn hóa mới” của cư dân ven biển dấu ấn về biển còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như : Phúc Thành, Đại An, con mèo Yên Mỗ, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoàng Trực, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II… Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn là một tiến ra biển mỗi năm gần 100m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hóa Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hóa từ Bắc vào nam, từ biển vào.

Kinh tế đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rào, nuôi cua. Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hóa đất mở. Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như : Tam Cốc, Bích Động, động Văn Trình, động Tiên, động Tam Giao, Tràng An, động Mã Tiên…Bích động được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhị động”, Địch Lộng là “Nam thiên đệ tam động”. Ở phía nam thành phố Ninh Bình có một quả núi giống như hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi à núi Ngọc Mỹ Nhân.

Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hóa Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hóa của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thủy tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hóa lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp xương, đề bút, sông núi hóa thành thi ca. Nhân cách bác học và phẩm cách văn hóa lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tần văn hóa địa phương, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được nhân dân tiếp thu, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hóa Ninh Bình. Vùng đất này còn là quê hương của nhiều danh nhân đất việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh, Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh, Lương Văn Tuy, Ninh Tốn.

Cùng với các di tích lịch sử - văn hóa Ninh Bình còn là vùng đất phong phú với các lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đến Thái Vi… Các lễ hội khác như lễ hội yên Cư, hội thôn tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật yên Vệ… Các công trình kiến trúc văn hóa như các đền vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Bái Đính, có làng chèo Phúc Trì, nam Dân, thượng Kiện, những trung tâm hát chầu văn ở đền Dâu, phủ Đồi… Có các làng nghề truyền thống như làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân - Hệ Dưỡng, nghệ mộc Phúc Lộc, nghề thêu Văn Lâm - Ninh hải, làng nghề chiếu cói ở Kim Sơn. Vài nét về huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình. Nho Quan là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh, phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình, phía Nam giáp thị xã Tam Điệp, phía Đông giáp huyện Gia Viễn, phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa.828,6 ha đất tự nhiên trong đó có 15.361,3 ha đất nông nghiệp, 14.295,97 ha đất lâm nghiệp.644 người gồm 2 dân tộc: Kinh và Mường, người kinh chiến gần 90% và người Mường trên 10%, mật độ dân số 313 người / km2; 79.231 người trong độ tuổi lao động, trong đó 75.237 người có khả năng lao động. Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 68.897 người, chiếm 91,95% số người trong độ tuổi lao động.

Huyện có 26 xã, 1 thị trấn và đều được Nhà nước công nhận là xã, thị trấn miền núi, trong đó có 3 xã vùng cao: Kỳ Phú, Phú Long và Cúc Phương. Nho Quan có dòng sông Bôi nối với sông Hoàng Long ra sông Đáy, có sông Lạng sông Bến Đang, trong lòng sông có chứa cát vàng và là đường thủy vận chuyển hàng hóa ngược xuôi thuận tiện. Đường bộ trên địa bàn huyện có Quốc lộ 59A, 12B, 12A đi qua hầu hất các xã trong huyện, có đường 492 từ thị trấn trung tâm của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện đi Cúc Phương, đất đai Nho Quan chia thành 3 vùng khá rõ rệt: Vùng núi, vùng bán sơn địa và vùng đồng chiêm trũng. Mỗi loại đất có thế mạnh riêng về trống trọt chăn nuôi.

Trên đất đồi núi thì trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, chăn nuôi trâu, bò, hươu, dê và ong mật. Trên đất bán sơn địa thì cấy lúa, trồng màu, trồng cây công nghiệp như lạc, mía và chăn nuôi lợn, gia cầm. Trên đất đồng chiêm trũng thì cấy lúa, chăn vịt, ngan, ngỗng, nuôi cá. Nhân dân Nho Quan có truyền thống yêu nước, kiên cường anh dũng chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc.

Xã Quynh Lưu là chiến khu thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh. Trong hòa bình xây dựng, nhân dân Nho Quan lao động cần cù, sáng tạo, xây dựng đời sống ngày một ấm no, hạnh phúc. Đến nay, GDP bình quân đầu người đã đạt trên 1,5 triệu đồng (tính theo giá trị cố định năm 1994). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 9%, trong GDP thì tỉ trọng nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 71,42%, công nghiệp xây dựng chiếm 8%, dịch vụ chiếm 20,58%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám Phá Dân Ca Mường Tại Xã Cúc Phương, Ninh Bình" mang đến cái nhìn sâu sắc về văn hóa dân ca Mường, một phần quan trọng trong di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam. Bài viết không chỉ giới thiệu về các thể loại dân ca đặc trưng của người Mường mà còn khám phá ý nghĩa và giá trị của chúng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Độc giả sẽ được tìm hiểu về cách mà dân ca Mường phản ánh tâm tư, tình cảm và phong tục tập quán của người dân nơi đây, từ đó nâng cao nhận thức về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa dân gian và các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa bảo tồn và phát huy dân ca ba na ở huyện kbang tỉnh gia lai, nơi cung cấp cái nhìn về việc bảo tồn văn hóa dân ca của một cộng đồng khác. Ngoài ra, tài liệu Cảm quan sinh thái trong văn học Mường khảo sát qua mo đẻ đất đẻ nước và các tác phẩm văn học hiện đại tiêu biểu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa văn học và văn hóa dân gian Mường. Cuối cùng, tài liệu Lịch sử văn hóa vùng đất Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình sẽ cung cấp thêm thông tin về bối cảnh văn hóa của khu vực Ninh Bình, nơi có sự giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa dân gian và giá trị của nó trong đời sống hiện đại.