Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN TỘC MƯỜNG VÀ DÂN CA MƯỜNG Ở XÃ CÚC PHƯƠNG HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH 1. Khái quát nền văn hóa dân gian Ninh Bình 1. Ninh Bình - dấu ấn một vùng văn hóa Sông núi thường là biểu tượng của một vùng quê như: Núi Nùng sông Nhị( Hà Nội), sông Lam núi Hồng( Nghệ An), sông Hương núi Ngự( Huế), Núi Ấn sông Trà( Quảng Ngãi), non Côi sông Vị( Nam Định), núi Thúy sông Vân( Ninh Bình). Sông vân, một chi nhánh của sông Đáy có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa của nhân dân Ninh Bình, dòng sông này chia đôi thị xã Ninh Bình.
Thị xã Ninh Bình được hình thành ở cửa nước ngã ba sông Đáy và sông Vân. Từ xa xưa ngã ba sông này đã là chợ cá và là bến Nứa. Từ chợ Cá này đã phát triển thành một trung kinh tế và chính trị văn hóa của một vùng, rồi một tỉnh. Vùng đất này có nhiều huyền tích và huyền thoại.
Sông Vân còn gọi là Vân Sàng gắn với truyền thuyết về Lê Hoàn khi thắng Tống trở về, Dương Vân Nga đã đem một đoàn cung nữ ra đón mở tiệc giao hoan với nhà vua ở trên dòng sông. Cái tên Vân Sàng( giường mây) đã ra đời từ đó. Về sau nhân dân đã lập đền Thượng Thờ Lê Hoàn và Dương Vân Nga ở ven sông và ca ngợi bằng đôi câu đối: Khước Tống khái ca lưu thử địa Tiếp Đinh chính thống thụ vu thiên. Núi Thúy còn gọi là núi Non Nước.
Một quả núi nhỏ ở ngã ba sông, đã chứng kiến dấu tích của nhiều thời kỳ lịch sử. Ngay từ thời Lý Nhân Tông vào năm Quảng Hựu thứ 7(1091) ông cha ta đã xây tháp Linh Tế trên núi, trải qua mưa nắng tháp bị đổ, đến thời Trần Hiển Tông, nhà sư Trị Nhu đã xây lại tháp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Linh Tế ở trên đỉnh núi, sáu năm mới xong (1337-1342). Trương Hán Siêu đã cho biết: “Tháp cao bốn tầng, đêm tỏa hào quang, người ở xa, gần đến trông thấy rõ”. Trương Hán Siêu cũng là người đổi tên núi Băng Sơn thành Dục Thúy Sơn (Chim trả tắm).
Núi Thúy, sông Vân là biểu tượng của Ninh Bình, còn nói rộng ra đây là một vùng “tứ giác nước” được tạo bởi sông Đáy, sông Hoàng Long và sông Vân. Ninh Bình ngày nay có 6 huyện là Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, và thị xã là Ninh Bình, Tam Điệp, trong đó thị xã Ninh Bình là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh. Vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và động vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp), thuộc thời kỳ đồ đá cũ cách ta khoảng 30 vạn năm ở Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại cách ta khoảng 30 nghìn năm.
Một số hang động ở Tràng An như hang Áng Nồi, hang Mòi, hang Bói, có di tích của con người từ 2 nghìn đến 9 nghìn năm. Động người Xưa (Cúc Phương) có di chỉ cư trú của con người thời văn hóa Hòa Bình cách ngày nay khoảng 7665 năm. Di tích của con người thời văn hóa Hòa Bình còn tìm thấy tại một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan. Sau thời kỳ văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo cổ học cho rằng vùng đồng bằng ven biển Thanh Hóa, Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam.
Di chỉ Đồng Vườn (Yên Thành, Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng (di chỉ Gò Trũng có niên đại C14:4700 năm cách ngày nay). Cư dân di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hóa đồ đồng cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu cách ta 3. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê - Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô ở Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông.
Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần…Thế kỷ XVI - XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm. Bên cạnh văn hóa của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có “Văn hóa mới” của cư dân ven biển dấu ấn về biển còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như : Phúc Thành, Đại An, con mèo Yên Mỗ, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoàng Trực, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II… Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn là một tiến ra biển mỗi năm gần 100m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hóa Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hóa từ Bắc vào nam, từ biển vào.
Kinh tế đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rào, nuôi cua. Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hóa đất mở. Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như : Tam Cốc, Bích Động, động Văn Trình, động Tiên, động Tam Giao, Tràng An, động Mã Tiên…Bích động được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhị động”, Địch Lộng là “Nam thiên đệ tam động”. Ở phía nam thành phố Ninh Bình có một quả núi giống như hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi à núi Ngọc Mỹ Nhân.
Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hóa Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hóa của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thủy tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hóa lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp xương, đề bút, sông núi hóa thành thi ca. Nhân cách bác học và phẩm cách văn hóa lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tần văn hóa địa phương, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được nhân dân tiếp thu, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hóa Ninh Bình. Vùng đất này còn là quê hương của nhiều danh nhân đất việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh, Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh, Lương Văn Tuy, Ninh Tốn.
Cùng với các di tích lịch sử - văn hóa Ninh Bình còn là vùng đất phong phú với các lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đến Thái Vi… Các lễ hội khác như lễ hội yên Cư, hội thôn tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật yên Vệ… Các công trình kiến trúc văn hóa như các đền vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Bái Đính, có làng chèo Phúc Trì, nam Dân, thượng Kiện, những trung tâm hát chầu văn ở đền Dâu, phủ Đồi… Có các làng nghề truyền thống như làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân - Hệ Dưỡng, nghệ mộc Phúc Lộc, nghề thêu Văn Lâm - Ninh hải, làng nghề chiếu cói ở Kim Sơn. Vài nét về huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình. Nho Quan là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh, phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình, phía Nam giáp thị xã Tam Điệp, phía Đông giáp huyện Gia Viễn, phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa.828,6 ha đất tự nhiên trong đó có 15.361,3 ha đất nông nghiệp, 14.295,97 ha đất lâm nghiệp.644 người gồm 2 dân tộc: Kinh và Mường, người kinh chiến gần 90% và người Mường trên 10%, mật độ dân số 313 người / km2; 79.231 người trong độ tuổi lao động, trong đó 75.237 người có khả năng lao động. Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 68.897 người, chiếm 91,95% số người trong độ tuổi lao động.
Huyện có 26 xã, 1 thị trấn và đều được Nhà nước công nhận là xã, thị trấn miền núi, trong đó có 3 xã vùng cao: Kỳ Phú, Phú Long và Cúc Phương. Nho Quan có dòng sông Bôi nối với sông Hoàng Long ra sông Đáy, có sông Lạng sông Bến Đang, trong lòng sông có chứa cát vàng và là đường thủy vận chuyển hàng hóa ngược xuôi thuận tiện. Đường bộ trên địa bàn huyện có Quốc lộ 59A, 12B, 12A đi qua hầu hất các xã trong huyện, có đường 492 từ thị trấn trung tâm của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện đi Cúc Phương, đất đai Nho Quan chia thành 3 vùng khá rõ rệt: Vùng núi, vùng bán sơn địa và vùng đồng chiêm trũng. Mỗi loại đất có thế mạnh riêng về trống trọt chăn nuôi.
Trên đất đồi núi thì trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, chăn nuôi trâu, bò, hươu, dê và ong mật. Trên đất bán sơn địa thì cấy lúa, trồng màu, trồng cây công nghiệp như lạc, mía và chăn nuôi lợn, gia cầm. Trên đất đồng chiêm trũng thì cấy lúa, chăn vịt, ngan, ngỗng, nuôi cá. Nhân dân Nho Quan có truyền thống yêu nước, kiên cường anh dũng chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc.
Xã Quynh Lưu là chiến khu thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh. Trong hòa bình xây dựng, nhân dân Nho Quan lao động cần cù, sáng tạo, xây dựng đời sống ngày một ấm no, hạnh phúc. Đến nay, GDP bình quân đầu người đã đạt trên 1,5 triệu đồng (tính theo giá trị cố định năm 1994). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 9%, trong GDP thì tỉ trọng nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 71,42%, công nghiệp xây dựng chiếm 8%, dịch vụ chiếm 20,58%.