Tổng quan nghiên cứu

Khu du lịch Bãi Cháy thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, sở hữu diện tích tự nhiên 1145,85 ha, giữ vai trò cửa ngõ và trung tâm lưu trú trọng điểm của Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long. Mỗi năm, địa bàn này đón từ 2,5 triệu đến 2,7 triệu lượt khách du lịch, với sự vận hành của 322 khách sạn, nhà hàng và tổ hợp vui chơi giải trí quy mô lớn. Sự bùng nổ của các hoạt động dịch vụ ven biển tạo ra áp lực nặng nề lên hạ tầng tiếp nhận chất thải. Hiện nay, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên toàn thành phố Hạ Long ước tính khoảng 36.640 m³/ngày đêm, trong khi hệ thống 4 trutm và nhà máy xử lý tập trung gồm Hà Khánh, Bãi Cháy, Vựng Đâng, Cột 5 - Cột 8 chỉ đạt tổng công suất thiết kế 15.100 m³/ngày đêm. Hệ quả là mỗi ngày có hơn 20.000 m³/ngày đêm nước thải chưa qua xử lý triệt để xả thẳng ra môi trường biển ven bờ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá hiện trạng xả thải và mức độ ảnh hưởng của các nguồn thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch tới chất lượng nước biển ven bờ Bãi Cháy. Mục tiêu cụ thể nhằm định lượng tải lượng ô nhiễm, phân tích diễn biến chất lượng nước theo mùa và xác định các điểm nóng ô nhiễm cục bộ. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian phường Bãi Cháy cùng các thủy vực ven bờ tiếp giáp vịnh Cửa Lục và vịnh Hạ Long, với dữ liệu thực nghiệm trọng điểm thu thập trong năm 2018 và chuỗi số liệu quan trắc mở rộng giai đoạn 2011 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống chỉ số môi trường chuẩn xác, hỗ trợ nâng cao hiệu suất thu gom nước thải đô thị từ 65,7% lên trên 90%, đồng thời bảo tồn hệ sinh thái biển và duy trì vị thế du lịch bền vững cho vùng vịnh di sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa các mô hình thủy văn môi trường và hệ thống đánh giá chất lượng nước hiện đại:

Mô hình cân bằng vật chất và lan truyền chất ô nhiễm Streeter - Phelps được ứng dụng để mô tả động thái suy giảm oxy hòa tan cũng như quá trình tự làm sạch của thủy vực ven biển. Thông qua phương trình cân bằng tải lượng ô nhiễm tại điểm xả trộn lẫn giữa dòng thải và nguồn tiếp nhận, mô hình cho phép tính toán nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ và nhu cầu oxy sinh hóa sau hòa trộn.

Phương pháp chỉ số chất lượng nước VN_WQI do Tổng cục Môi trường ban hành, kết hợp cùng khung chuẩn hóa quốc tế NSF-WQI, được sử dụng để tích hợp các thông số quan trắc đa chiều về một thang điểm định lượng từ 0 đến 100. Chỉ số này phản ánh trực quan mức độ phù hợp của nguồn nước cho các mục đích tắm biển, thể thao dưới nước hay bảo tồn thủy sinh.

Hệ thống lý thuyết gắn liền với 4 khái niệm cốt lõi: Khả năng chịu tải của nguồn nước biển, Tải lượng ô nhiễm tức thời và tích lũy, Quá trình phú dưỡng hóa ven bờ do dư thừa hợp chất nitơ - photpho, và Hiệu ứng pha loãng thủy triều tại vùng vịnh nhật triều có biên độ dao động trung bình 3,6 mét.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm số liệu thứ cấp từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long giai đoạn 2011 - 2018, cùng số liệu sơ cấp từ 10 đợt quan trắc thực địa trong năm 2018. Lịch trình quan trắc được bố trí chuyên biệt vào mùa xuân tháng 4 (các ngày 9, 12, 14, 15, 30/4 và 1/5) và mùa hè tháng 8 (các ngày 20, 23, 25, 26/8), thu thập mẫu trong cả ngày thường, ngày cuối tuần và các kỳ nghỉ lễ cao điểm.

Cỡ mẫu khảo sát chất lượng nước gồm 5 vị trí đại diện: M1 tại cống Cái Dăm, M2 tại trạm xử lý Cái Dăm, M3.2 tại bãi tắm Đảo Rều, M3.3 tại bãi tắm trung tâm Sun World, M4 tại cống thoát nước Thanh Niên và M5 tại cống Vườn Đào bến phà cũ. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm bao phủ toàn bộ các cửa xả chính và vùng nước nhạy cảm, thực hiện lấy mẫu vào 3 khung giờ mỗi ngày (6h - 7h, 11h - 12h, 19h - 20h). Cỡ mẫu điều tra xã hội học đạt 100 phiếu phỏng vấn phân bổ cho 6 nhóm đối tượng: 20 chủ tàu, 20 thuyền trưởng, 10 quản lý khách sạn, 10 quản lý nhà hàng, 20 du khách và 20 người dân địa phương.

Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6492:2011 cho pH và TSS, TCVN 6179:1996 cho amoni (NH4+), TCVN 6187-2:1996 cho vi sinh Coliform, và phương pháp chuẩn quốc tế SMEWW 5210D cho BOD5, SMEWW 5220C cho COD. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính pháp lý khi đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2008/BTNMT về nước thải sinh hoạt và QCVN 10-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước biển ven bờ, đảm bảo độ lặp lại cao và kiểm soát sai số thực nghiệm dưới 5%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực nghiệm từ các đợt quan trắc cho thấy 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng xả thải và chất lượng nước ven bờ Bãi Cháy:

Thứ nhất, nước thải tại các cửa xả sinh hoạt ven bờ bị ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng nghiêm trọng. Tại điểm M4 (cửa cống Thanh Niên) và điểm M1 (cống Cái Dăm), nồng độ chất rắn lơ lửng (TSS) dao động trong khoảng 46 - 185 mg/L, vượt giới hạn cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT Cột B (100 mg/L) tới 85%. Nồng độ BOD5 tại hai cửa xả này đạt mức 80,5 - 87,5 mg/L, vượt ngưỡng quy chuẩn 50 mg/L từ 61% đến 75%.

Thứ hai, chất lượng nước biển ven bờ bãi tắm biến động mạnh theo mùa du lịch và các dịp lễ cao điểm. Tại bãi tắm trung tâm Sun World (M3.3), vào đợt lễ 30/4 - 1/5 và các ngày cuối tuần tháng 8, chỉ số COD đo được từ 4,1 đến 4,7 mg/L, vượt 2,5% đến 17,5% so với ngưỡng giới hạn 4 mg/L quy định cho vùng bãi tắm. Nồng độ amoni (NH4+) tại đây chạm mức 0,50 - 0,57 mg/L, vượt ngưỡng an toàn 0,5 mg/L theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT.

Thứ ba, sự phân hóa chất lượng nước rõ rệt giữa các khu vực có cơ chế kiểm soát khác nhau. Vùng biển bãi tắm Đảo Rều (M3.2) thuộc quản lý khép kín của khu nghỉ dưỡng duy trì các thông số ở mức rất tốt (BOD5 dưới 1,5 mg/L, TSS dưới 30 mg/L). Ngược lại, khu vực bãi tắm Thanh Niên và các điểm ven cống thoát nước dân sinh ghi nhận mật độ Coliform vượt từ 1,5 đến 2,4 lần quy chuẩn an toàn sinh học.

Thứ tư, áp lực cộng hưởng từ giao thông thủy và cơ sở dịch vụ ven vịnh. Đội tàu du lịch 527 phương tiện (trong đó có 88 - 89 tàu lưu trú) kết hợp cùng hơn 12.600 lượt tàu khách mỗi năm tại khu vực cảng Cái Lân phát sinh lượng nước lẫn dầu khoáng đáng kể, làm hàm lượng dầu mỡ ven bờ một số đợt tăng cao từ 20% đến 35% so với mức nền tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm cục bộ bắt nguồn từ sự xuống cấp của hệ thống hạ tầng kỹ thuật và áp lực quá tải cục bộ. Điển hình tại bãi tắm Thanh Niên, miệng cống thu gom nước thải sinh hoạt bị nứt vỡ và mất khả năng điều tiết, khiến nước thải chưa qua xử lý rò rỉ trực tiếp ra bãi cát. Bên cạnh đó, mạng lưới thoát nước của khu vực Bãi Cháy vẫn là hệ thống cống chung giữa nước mưa và nước thải sinh hoạt, dẫn đến hiện tượng tràn cống mỗi khi có mưa lớn hoặc vào mùa hè khi lượng khách du lịch tăng vọt.

Về mặt biểu diễn số liệu, các phát hiện nghiên cứu được trực quan hóa thông qua hệ thống bảng tổng hợp đối sánh đa thời điểm và biểu đồ cột kết hợp đường xu hướng. Biểu đồ diễn biến nồng độ TSS, BOD5 và NH4+ qua các mốc thời gian ngày thường so với ngày lễ phản ánh rõ nét bước nhảy vọt của tải lượng ô nhiễm hữu cơ tương ứng với lượng khách lưu trú tại 322 cơ sở trên địa bàn.

So sánh với các nghiên cứu môi trường biển tại vịnh Đà Nẵng hay vịnh Nha Trang, khu vực Bãi Cháy có đặc thù chịu tác động kép: vừa chịu tải lượng hữu cơ từ dịch vụ du lịch ven bờ, vừa chịu áp lực từ các luồng vận tải hàng hóa của cụm cảng Cái Lân và cảng dầu B12 với lưu lượng 4 triệu m³ xăng dầu mỗi năm. Ý nghĩa nghiên cứu nhấn mạnh rằng nếu không kịp thời tách riêng mạng lưới thu gom và nâng cấp trạm xử lý, nguy cơ suy thoái rạn san hô và bùng phát tảo nở hoa ở vùng đệm sẽ đe dọa trực tiếp đến vùng lõi của Di sản Vịnh Hạ Long.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm nước thải ven biển Bãi Cháy, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Cải tạo và hoàn thiện mạng lưới thu gom, tách riêng hệ thống thoát nước: Tiến hành sửa chữa, thay thế dứt điểm 100% các đoạn cống nứt vỡ tại khu vực bãi tắm Thanh Niên và Cái Dăm; xây dựng tuyến cống bao ven biển nhằm tách rời hoàn toàn nước mưa chảy tràn và nước thải sinh hoạt đô thị. Mục tiêu: Nâng tỷ lệ thu gom nước thải sinh hoạt toàn phường Bãi Cháy từ 70% lên đạt tối thiểu 95%, chấm dứt hoàn toàn tình trạng nước thải rò rỉ ra bãi tắm du lịch. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2021 - 2023. Chủ thể thực hiện: UBND thành phố Hạ Long chủ trì, phối hợp với Công ty Cổ phần Nước sạch và Môi trường đô thị Quảng Ninh.

  2. Mở rộng công suất và hiện đại hóa công nghệ các nhà máy xử lý nước thải: Đầu tư nâng cấp công suất Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy từ 3.500 m³/ngày đêm lên 8.000 m³/ngày đêm; nâng công suất trạm Cái Dăm lên 4.000 m³/ngày đêm; ứng dụng công nghệ lọc màng sinh học MBR kết hợp khử trùng ozone tiên tiến. Mục tiêu: Đảm bảo 100% nước thải từ 322 khách sạn, nhà hàng và khu dân cư được xử lý đạt chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT Cột A trước khi xả ra biển. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2022 - 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Xây dựng và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh.

  3. Tăng cường kiểm soát nguồn thải từ phương tiện thủy và lắp đặt hệ thống quan trắc tự động: Bắt buộc 100% đội tàu 527 phương tiện du lịch và các nhà bè nổi lắp đặt bể lưu giữ hoặc thiết bị tách dầu nước đạt chuẩn; xây dựng thêm 3 trạm quan trắc nước biển tự động, liên tục tại bãi tắm Sun World, bãi tắm Đảo Rều và chân cầu Bãi Cháy. Mục tiêu: Giám sát 24/7 chất lượng nước biển ven bờ, phát hiện và xử phạt 100% các hành vi xả thải trộm với mức chế tài tăng thêm 50% theo quy định pháp luật. Thời gian thực hiện: Bắt đầu từ năm 2021 và duy trì thường xuyên. Chủ thể thực hiện: Cảng vụ Đường thủy nội địa Quảng Ninh, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long và Cảnh sát Môi trường.

  4. Nâng cao năng lực quản trị môi trường và truyền thông sinh thái: Tổ chức định kỳ 12 khóa tập huấn hàng năm cho toàn bộ đội ngũ quản lý khách sạn, chủ tàu và cộng đồng dân cư; ban hành bộ tiêu chí "Dịch vụ du lịch xanh không rác thải nhựa và nước thải chưa xử lý". Mục tiêu: Đạt 100% cơ sở kinh doanh ký cam kết bảo vệ môi trường, giảm thiểu 40% lượng chất thải phát sinh tại nguồn ven bờ. Thời gian thực hiện: Triển khai liên tục hàng quý trong giai đoạn 2021 - 2025. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Du lịch Quảng Ninh phối hợp với UBND phường Bãi Cháy.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long và UBND thành phố Hạ Long. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học định lượng về tải lượng ô nhiễm và hiện trạng các cửa xả, phục vụ công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), phê duyệt quy hoạch thoát nước và xây dựng đề án bảo vệ môi trường vịnh.

  2. Doanh nghiệp đầu tư hạ tầng du lịch và đơn vị vận hành cảng: Các tập đoàn phát triển nghỉ dưỡng, ban quản lý bến tàu khách Cái Lân và các chủ cơ sở lưu trú tại Bãi Cháy. Luận văn cung cấp thông số phát thải thực tế từ 322 cơ sở lưu trú và 527 tàu du lịch, giúp doanh nghiệp tính toán quy mô trạm xử lý nội bộ, áp dụng công nghệ xanh và giảm thiểu rủi ro pháp lý về môi trường.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Môi trường: Các cá nhân và tổ chức nghiên cứu trong lĩnh vực Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Quản lý Đô thị. Tài liệu đóng vai trò là một case study thực tế kết hợp nhuần nhuyễn giữa mô hình lan truyền Streeter - Phelps, chỉ số WQI và phương pháp điều tra xã hội học 100 mẫu.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới bảo tồn thiên nhiên: Các tổ chức bảo vệ môi trường biển và quản lý di sản thế giới. Dữ liệu thực nghiệm giúp xây dựng các chương trình giám sát chất lượng nước dựa vào cộng đồng, vận động chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển các mô hình du lịch sinh thái bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguồn nước thải nào gây áp lực ô nhiễm lớn nhất lên vùng biển Bãi Cháy? Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư đô thị và 322 cơ sở lưu trú du lịch là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất. Thành phố Hạ Long phát sinh tới 36.640 m³/ngày đêm nước thải sinh hoạt nhưng hệ thống xử lý tập trung chỉ đáp ứng được 15.100 m³/ngày đêm, dẫn đến hơn 20.000 m³/ngày đêm nước thải chưa qua xử lý triệt để xả ra môi trường biển ven bờ.

  2. Chất lượng nước biển tại các bãi tắm Bãi Cháy có an toàn cho hoạt động tắm biển không? Vào ngày thường, chất lượng nước tại các bãi tắm đạt chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT. Tuy nhiên, vào các dịp lễ cao điểm 30/4 - 1/5 và cuối tuần mùa hè, nồng độ COD vượt từ 2,5% đến 17,5% và amoni đạt 0,57 mg/L (vượt ngưỡng 0,5 mg/L), cho thấy nước biển bị ô nhiễm cục bộ trong thời gian ngắn và cần được giám sát liên tục.

  3. Đội tàu du lịch trên vịnh Hạ Long tác động như thế nào đến môi trường nước ven bờ? Với 527 tàu du lịch hoạt động và hơn 12.600 lượt tàu khách mỗi năm tại cảng Cái Lân, việc thải bỏ nước sinh hoạt và nước la-canh nhiễm dầu chưa đạt chuẩn gây nguy cơ ô nhiễm dầu mỡ và vi sinh vật Coliform, làm suy giảm chất lượng nước tại các luồng tuyến ven bờ từ 20% đến 35% trong mùa du lịch cao điểm.

  4. Vai trò của mô hình Streeter - Phelps trong nghiên cứu này là gì? Mô hình Streeter - Phelps được dùng để mô phỏng quá trình hòa trộn, phân hủy sinh học chất hữu cơ (BOD, COD) và khả năng tự làm sạch oxy hòa tan của khối nước tiếp nhận. Mô hình này giúp lượng hóa chính xác khả năng chịu tải của vùng biển ven bờ đối với từng cửa xả nước thải Cái Dăm và Thanh Niên.

  5. Giải pháp công trình cấp bách nhất cần triển khai ngay là gì? Giải pháp cấp bách nhất là sửa chữa dứt điểm miệng cống rò rỉ tại bãi tắm Thanh Niên và tách riêng hệ thống thoát nước mưa với nước thải sinh hoạt. Song song đó, cần mở rộng công suất Nhà máy xử lý nước thải Bãi Cháy lên 8.000 m³/ngày đêm để đảm bảo thu gom 95% lượng nước thải phát sinh trong giai đoạn 2021 - 2025.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước biển và nước thải tại khu du lịch Bãi Cháy thông qua chuỗi số liệu thực nghiệm đa thời điểm với 10 đợt quan trắc chuyên sâu trong năm 2018.
  • Nhận diện và lượng hóa áp lực xả thải từ hơn 20.000 m³/ngày đêm nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý, chỉ rõ sự vượt ngưỡng của các chỉ tiêu TSS (đạt tới 185 mg/L) và BOD5 (đạt tới 87,5 mg/L) tại các cửa xả Cái Dăm và Thanh Niên.
  • Ứng dụng thành công mô hình Streeter - Phelps và chỉ số WQI để xác định khả năng chịu tải của môi trường biển ven bờ, chứng minh hiện tượng suy giảm chất lượng nước cục bộ trong các kỳ nghỉ lễ cao điểm.
  • Đề xuất đồng bộ hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình, xác định lộ trình nâng công suất xử lý lên 8.000 m³/ngày đêm và hoàn thiện hạ tầng cống bao ven bờ trong giai đoạn 2021 - 2025.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp hoạch định chiến lược bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển du lịch biển Bãi Cháy bền vững và gìn giữ giá trị Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long.

Các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp du lịch và chuyên gia môi trường hãy chủ động ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu và giải pháp của luận văn vào thực tiễn quản lý đô thị biển, chung tay kiến tạo một không gian du lịch Bãi Cháy xanh, sạch và phát triển bền vững cho tương lai.