CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu lý luận về cách mạng khoa học và công nghệ, lối sống 1. Công trình nghiên cứu về cách mạng khoa học và công nghệ * Những nghiên cứu ở nước ngoài Đã có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của cách mạng khoa học và công nghệ. Một trong những tác giả nghiên cứu sâu về cách mạng khoa học và công nghệ là Thomas Kuhn.
Theo Kuhn, khoa học không phát triển theo đường thăng thông qua việc tích luỹ đều đặn tri thức mới, mà trải qua những cuộc cách mạng, tức là trải qua những bước chuyền. Khi có sự thay đổi đột ngột về ban chất của phát kiến khoa học ở một lĩnh vực, có tính đứt đoạn thì khi đó xuất hiện “cuộc cách mạng khoa học” [147]. Thomas Kuhn chia sự phát triển của khoa học làm ba thời ky: thoi kỳ tién khoa học - khoa học chưa có cho mình một mẫu hình trung tâm, thoi ky khoa hoc chuẩn định - các nhà khoa học bỏ nhiều công sức dé mở rộng và củng cố mẫu hình thông qua việc giải các bài toán, và thời kỳ khủng hoảng - mẫu hình mới ra đời và thay thế mẫu hình cũ. Việc nghiên cứu lịch sử khoa học không chỉ nhằm giải thích sự năng động của các khoa học dưới góc độ nhận thức mà còn phải xét đến các nhân tố xã hội.
Về khái niệm công nghệ, Eric Schatzberg đã giải thích khá sâu sắc về thuật ngữ công nghệ. Eric Schatzberg cho răng cách tiếp cận thuật ngữ công nghệ bắt đầu từ việc gán cho nó một ý nghĩa liên quan tới việc loại bỏ ý nghĩa quy trình công nghiệp và chỉ giữ lại ý nghĩa của một ngành chú trọng vào các hoạt động thực tiễn, có tính chất thực hành trong xã hội [151]. Trên cơ sở phân tích sự thay đổi căn bản trong cách hiểu thuật ngữ công nghệ, Eric Schatzberg chỉ rõ tính chất lịch sử của khái niệm này trong xã hội Mỹ và Tây Âu trước những năm 1930, xem đó là tiền đề quan trọng dé tìm hiểu và nhận thức đúng đắn bản chất của công nghệ cũng như các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ sau này. 13 Các tác giả Richard Whitley, Bernward Joerges, Helga Nowotny đã đưa ra những nhận định và đánh giá về khoa học và công nghệ, những ảnh hưởng của khoa học và công nghệ đến đời sống con người [157].
Xuất phát từ tính chất thúc đây phát triển xã hội, các tác giả đã luận giải về những ảnh hưởng của khoa học và công nghệ đến quá trình hoạch định và thực hiện chính sách, thực hiện dân chủ trong xã hội, ngoại giao và hội nhập toàn cầu, v. Đặc biệt, các tác giả nhắn mạnh đến quá trình thay đôi nhận thức về vị trí và vai trò của khoa học và công nghệ trong định hướng phát triển xã hội loài người tương lai. Với những ảnh hưởng mạnh mẽ của nó, khoa học và công nghệ khiến cho lối song, văn hóa, cách tư duy, v. của ban thân mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có sự biến đổi sâu sắc theo xu hướng xích lại gần nhau.
Tiến trình này đặt ra nhiều vấn đề mà cho đến nay nhân loại vẫn đang tiếp tục tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để giải quyết một cách triệt dé và có hiệu quả như: van đề chủ quyên, trật tự thế giới mới, vấn đề hòa hợp và xung đột văn hóa, v. Khi bàn về lịch sử phát triển của kỹ thuật, tác giả Bernard Stiegler đã đặt ra câu hỏi đối tượng của kỹ thuật là gì? [138]. Trên cơ sở phân tích lịch sử phát triển của khoa học và kỹ thuật, tác giả cho rằng từ thời kỳ Aristote cho đến C. Mác kỹ thuật có sự tiến hóa va phát triển cùng với sự phát triển của loài người.
Sự phát triển của kỹ thuật đặt ra nhiều vấn đề cho khoa học nói chung và triết học nói riêng. Triết học phải đối mặt với một thế giới mới do sự mở rộng kỹ thuật ở các lĩnh vực khác nhau, trong đó có đời sống con người. Franklin đã xem xét khái niệm công nghệ và tác động của nó đối với cuộc sống như: sự mở rộng quyền riêng tư và quyền sở hữu trí tuệ, tác động của công nghệ đối với chính phủ và quản trị, sự chuyên đổi từ chủ nghĩa tư bản tiêu dùng sang chủ nghĩa tư bản đầu tư và ảnh hưởng của internet đối với việc làm [142] Tác giả Arhok Kuma đã trình bày một số lĩnh vực khoa học và công nghệ đương dai cũng như một số ngành khoa học mới nồi như công nghệ sinh học; công nghệ hạt nhân, công nghệ thông tin và những vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển và triển vọng tương lai của nó, v. Theo các ông, tác động của công nghệ đối với giáo dục thông qua việc hình thành các mối quan hệ, mạng xã hội và các mối quan hệ xã hội trong trường học.
Thông qua việc sử dụng lý thuyết lăng kính, công trình đã làm nổi bật những tác động tích cực của công nghệ mới trong giáo dục, đồng thời ủng hộ các cơ hội học tập và hỗ trợ việc ứng dụng công nghệ vào trong hoạt động giáo dục và đào tạo. * Những nghiên cứu ở trong nước Xuất phát từ những khía cạnh khác nhau, giới nghiên cứu trong nước cũng đã thảo luận nhiều về các nội dung có liên quan đến cách mạng khoa học và công nghệ. Từ năm 1989, tác giả Đặng Hữu đã làm rõ cơ sở lý luận chung nhất của khoa học và kỹ thuật; chỉ ra những tác động của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đến môi trường kinh tế thế giới; ứng dụng của thành tựu khoa học và kỹ thuật vào Việt Nam; phương hướng phát triển ở Việt Nam và những điều kiện để phát triển khoa học và kỹ thuật trong giai đoạn tiếp theo [64]. Tác giả Vũ Đình Cự đã làm rõ vai trò nền tảng của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; mô hình và co cau của khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường: hệ thống công nghệ mới và xu thế hiện đại; giải pháp đôi mới và hoàn thiện chính sách khoa học va công nghệ của nhà nước, v.
Tác giả Đỗ Công Tuấn đã tập hợp, giải nghĩa danh từ, thuật ngữ phản ánh các khái niệm cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng tạo công nghệ, quản lý khoa học, chuyển giao công nghệ, tên các nhà khoa học, v. Mặc dù công trình không đề cập nhiều đến những vấn đề lý luận nhưng cũng đã cung cấp những khái niệm công cụ cho nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cách mạng khoa học và công nghệ. Tác giả Tạ Bá Hung đã chỉ ra bối cảnh phát trién khoa học và công nghệ trên thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI; Khái quát sự phát triển khoa học và công nghệ; Chỉ ra những đặc trưng và xu thê vận động mới của cuộc cách mạng khoa học 15 và công nghệ hiện đại; Xu thế và dự báo phát triển khoa học và công nghệ đầu thế kỷ XXI; Quan điểm phát triển khoa học công nghệ của một số nước ở Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á và một số khu vực khác [159]. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong các quan niệm về khoa học và công nghệ, tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm đã nhắn mạnh mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ, kỹ thuật và sản xuất [107].
Trên cơ sở đó, tác giả cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của cách mạng khoa học và công nghệ đến đời sông xã hội, đặc biệt trên các khía cạnh văn hóa và môi trường. Với quan điểm cho rằng cùng với quá trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung, của phương thức sản xuất nói riêng, vai trò của khoa học và công nghệ cũng ngày càng được nâng cao và ngày càng thé hiện rõ ràng dưới dạng một thực tiễn xã hội trực tiếp nhờ vào quá trình không ngừng biến đổi và hoàn thiện của chúng. Tác giả Phạm Thị Ngọc Tram một lần nữa nhấn mạnh những yếu tố nội tại giúp cho khoa học và công nghệ trở thành yếu tố thúc day mạnh mẽ sự phát triển của xã hội [108]. Từ chỗ là lực lượng sản xuất tiềm năng, ngày nay, khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Với 4 điều kiện cơ bản để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tác giả đóng góp những ý kiến có giá trị giúp luận giải những ưu điểm của khoa học và công nghệ nói riêng, cách mạng khoa học và công nghệ nói chung trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội đương đại. Tác giả Lương Đình Hải cũng đã nêu ra những đặc trưng cơ bản nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay như: sự tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và sản xuất; các phát minh, các công nghệ mới ra đời từ phòng thí nghiệm; tạo dựng môi trường thông tin, yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất và đời sống xã hội [43]. Tác giả cho rằng, những đặc trưng này kết hợp với các yếu tố xã hội hướng theo các nhu cầu cá nhân - cá thể, đơn nhất, đặc thù đang làm chuyển dịch dần nền sản xuất xã hội ở quy mô toàn cầu vận hành theo những nguyên tắc mới: phi tiêu chuan hóa, phi chuyên môn hóa, phi đồng thời hóa, phi tập trung hóa, phi tối đa hóa và phi trung tâm hóa, v. 16 Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã truyền tải đến các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà phân tích về những xu hướng biến đổi được dự đoán về các mô hình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo toàn cầu, về những tác động hiện tại và có thé xảy ra trong tương lai đối với các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cả cấp độ quốc gia và toàn cầu, trong đó dự báo “AI (trí tuệ nhân tạo) có thé thay déi con người theo những cách không thé đoán trước [27].
Việc tích hợp AI vào đời sống và hoạt động cá nhân sẽ tạo ra sự thay đôi trong các mối quan hệ và hành vi xã hội của con người, đặc biệt liên quan đến các robot dùng AI có hình dạng người.