Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với gần 65,4% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa giữ vai trò trọng tâm. Cây chè được xác định là cây công nghiệp truyền thống lâu đời có giá trị kinh tế cao, đồng thời mang lại giá trị dược liệu và tiêu dùng thiết thực đối với sức khỏe con người nhờ chứa các hoạt chất như cafein, hợp chất ancaloit, hỗn hợp tanin, các vitamin (A, B1, B2, B6, PP, C) và khả năng hỗ trợ điều trị bệnh. Tỉnh Thái Nguyên là vùng trọng điểm phát triển cây chè của cả nước, nơi các sản phẩm chè đã tạo dựng được vị thế thương hiệu vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tại huyện Phú Lương, xã Phú Đô là địa phương sở hữu diện tích và sản lượng chè lớn, cây chè được xác định là cây trồng mũi nhọn giúp giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương từ khâu canh tác, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi phải có mô hình tổ chức liên kết phù hợp. Nhằm đáp ứng nhu cầu tương trợ kinh tế của các nông hộ, Hợp tác xã (HTX) chè Phú Nam 1 đã được thành lập vào tháng 10 năm 2017. Để đánh giá việc vận hành mô hình kinh tế tập thể này trong thực tiễn, đề tài "Tìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1 xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể theo các nhóm nhiệm vụ sau:

  1. Về chuyên môn:
    • Tìm hiểu cơ cấu tổ chức bộ máy và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1 tại xã Phú Đô.
    • Nắm vững các công việc thực tế được phân công tại cơ sở thực tập.
    • Làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong phương thức tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
    • Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1.
  2. Về thái độ:
    • Xây dựng mối quan hệ làm việc hòa nhã, thân thiện với các thành viên HTX và cán bộ Ủy ban nhân dân (UBND) xã Phú Đô.
    • Nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, hoàn thành chính xác và kịp thời các nhiệm vụ được cơ sở thực tập phân công.
  3. Về kỹ năng sống và làm việc:
    • Rèn luyện tác phong làm việc tập thể, tuân thủ nghiêm túc các nội quy của HTX và chính quyền địa phương.
    • Ứng dụng các kiến thức chuyên ngành đã học để thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu thực địa.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại địa bàn xã Phú Đô, trọng tâm khảo sát trực tiếp tại HTX chè Phú Nam 1 thuộc xóm Phú Nam 1, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập và điều tra thực tế diễn ra từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018; các chuỗi số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên khung pháp lý của Nhà nước về kinh tế tập thể và các khái niệm chuyên ngành kinh tế nông nghiệp:

  • Khung văn bản pháp luật: Nghiên cứu viện dẫn Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 ngày 20/11/2012; Luật Hợp tác xã năm 2003; Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26/05/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động; Nghị quyết số 13-NQ/TW của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa IX; Chỉ thị 68-CT/TW ngày 24/05/1996 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương về khoán sản phẩm; Nghị quyết số 16 Ban Chấp hành Trung ương (tháng 4/1959).
  • Khái niệm và bản chất HTX: Luận văn so sánh định nghĩa HTX giữa Luật 2003 và Luật 2012. Điểm cốt lõi được tác giả nhấn mạnh là Luật Hợp tác xã năm 2012 đã bãi bỏ quy định xem "HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp", qua đó định vị đúng đắn HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập để tương trợ lẫn nhau nhằm đáp ứng nhu cầu chung mà từng thành viên riêng lẻ không thực hiện được. Khóa luận cũng trích dẫn định nghĩa của Trần Quốc Khánh (2005) về HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế của những người nông dân tự nguyện liên kết để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế và đời sống.
  • Phân loại HTX nông nghiệp: Văn bản phân định thành ba nhóm mô hình chính gồm HTX dịch vụ (dịch vụ từng khâu, dịch vụ tổng hợp đa chức năng, dịch vụ chuyên ngành); HTX sản xuất kết hợp dịch vụ; và HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp nhận, thống kê các tài liệu, báo cáo lưu trữ tại UBND xã Phú Đô về tình hình sử dụng đất đai, dân số, biến động cây trồng vật nuôi; kế thừa các công trình nghiên cứu và tài liệu khảo sát về cây chè.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Phỏng vấn sâu lãnh đạo và cán bộ quản trị HTX chè Phú Nam 1, Giám đốc HTX, cán bộ phụ trách kinh tế - xã hội của UBND xã Phú Đô; kết hợp quan sát thực địa về điều kiện canh tác, quy trình chế biến của các hộ thành viên.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Dữ liệu điều tra được sàng lọc, kiểm tra tính chuẩn hóa và loại bỏ các sai lệch, sau đó được nhập liệu và tính toán thông qua phần mềm Microsoft Excel. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu giữa các năm (2015 – 2017) để tìm ra quy luật biến động.

Hệ thống công thức kinh tế lượng hóa kết quả sản xuất được sử dụng trong nghiên cứu:

  • Tổng giá trị sản xuất ($GO$): $$GO = \sum_{i=1}^n P_i \times Q_i$$ (Trong đó $P_i$ là đơn giá sản phẩm thứ $i$; $Q_i$ là sản lượng sản phẩm thứ $i$ thu được trong năm báo cáo).
  • Chi phí trung gian ($IC$): $$IC = \sum_{j=1}^n C_j$$ (Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống nước tưới; không bao gồm khấu hao tài sản cố định).
  • Giá trị gia tăng ($VA$): $$VA = GO - IC$$
  • Thu nhập hỗn hợp ($MI$): $$MI = VA - (A + W)$$ (Trong đó $A$ là khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ; $W$ là chi phí thuê mướn lao động).
  • Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp ($H$): $$H = \frac{Q}{C}$$ (Được chi tiết hóa thành các chỉ số: Giá trị sản xuất/Chi phí trung gian, Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian, Giá trị sản xuất/Công lao động, Giá trị gia tăng/Công lao động).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu tập trung trình bày sự cần thiết của đợt thực tập tốt nghiệp và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu đối với chuyên ngành Phát triển nông thôn. Tác giả nêu rõ tầm quan trọng kinh tế của cây chè đối với Việt Nam nói chung và xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Nội dung thiết lập toàn bộ hệ thống mục tiêu chuyên môn, yêu cầu về thái độ và kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên; đồng thời xác định kế hoạch thực tập từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018 tại HTX chè Phú Nam 1. Phần này cũng hệ thống hóa các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp và bộ chỉ tiêu kinh tế dùng để đánh giá kết quả sản xuất chè của nông hộ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở khoa học và thực tiễn về mô hình kinh tế hợp tác. Tác giả làm rõ nội dung Điều lệ HTX theo quy định pháp luật (tên gọi, biểu tượng, ngành nghề, quyền và nghĩa vụ thành viên, cơ cấu tổ chức, vốn điều lệ, trích lập quỹ, giải quyết tranh chấp). Chương sách trình bày chi tiết thủ tục tiếp nhận, xử lý hồ sơ và đăng ký thành lập HTX theo Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT với thời hạn giải quyết trong vòng 5 ngày làm việc, bao gồm 6 thành phần hồ sơ bắt buộc (Giấy đề nghị, Điều lệ, Phương án sản xuất kinh doanh, Danh sách thành viên, Danh sách Hội đồng quản trị/Ban kiểm soát, Nghị quyết hội nghị thành lập).

Bên cạnh đó, chương tổng quan phác thảo tiến trình lịch sử phát triển HTX tại Việt Nam qua 8 giai đoạn đặc thù:

  • Giai đoạn 1955 – 1958: Thí điểm xây dựng HTX nông nghiệp khởi đầu từ tổ đổi công; đến năm 1958 cả nước có 244.000 tổ đổi công (chiếm 65,7% số hộ nông dân); cuối năm 1957 đã thí điểm 42 HTX tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa với quy mô 20 – 30 hộ/HTX. Lương thực bình quân đầu người tăng từ 257 kg (1957) lên 334 kg (1959).
  • Giai đoạn 1959 – 1960: Thực hiện Nghị quyết 16 TW, cải tạo nông nghiệp cá thể; đến mùa thu năm 1960 đã đưa 2,4 triệu hộ (84,8% số hộ) và 70% diện tích đất vào 41.000 HTX.
  • Giai đoạn 1961 – 1980: Phong trào phát triển HTX quy mô lớn bậc cao bộc lộ khủng hoảng; giai đoạn 1966 – 1972 tốc độ tăng chi phí (15,1%) vượt tốc độ tăng thu nhập (13,6%).
  • Giai đoạn 1981 – 1988: Triển khai cơ chế khoán theo Chỉ thị 100, tạo động lực ban đầu nhưng sau đó suy giảm do bất cập trong phân phối bình quân.
  • Giai đoạn 1988 – 1996: Triển khai Luật HTX 1993, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ gia đình. Toàn quốc giải thể 2.958 HTX và 33.804 tập đoàn sản xuất; số lượng HTX còn lại được sàng lọc thành 3 nhóm (15,5% hoạt động tốt; 40,2% hoạt động cầm chừng; 43,3% tồn tại hình thức).
  • Giai đoạn 1996 – 2003: Đến tháng 6/2003, cả nước có 14.207 HTX (trong đó 5.800 HTX thành lập mới và 8.400 HTX chuyển đổi); xử lý giải thể 2.271 HTX yếu kém trong giai đoạn 2001 – 2002.
  • Giai đoạn 2003 – 2012: Tính đến ngày 01/7/2008, toàn quốc có 14.500 HTX; lao động thường xuyên trong HTX có mức cải thiện thu nhập rõ rệt ở khối xây dựng, thương nghiệp và tín dụng.
  • Giai đoạn từ 2012 đến nay: Triển khai Luật HTX 2012. Đến ngày 01/01/2017, toàn quốc có khoảng 13,5 nghìn HTX với 206 nghìn lao động; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51%, dịch vụ chiếm 29,5%, công nghiệp - xây dựng chiếm 19,5%. Tác giả phân tích các rào cản về tâm lý xã viên, trình độ cán bộ quản lý và đề xuất các giải pháp về tín dụng, đất đai, đào tạo nguồn nhân lực.

Phần 3: Kết quả thực tập

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả khảo sát thực tế tại địa phương và tại đơn vị thực tập:

Điều kiện tự nhiên xã Phú Đô: Xã nằm ở phía đông huyện Phú Lương, cách trung tâm huyện gần 20 km, diện tích tự nhiên đạt 2.263,64 ha. Địa hình đồi núi thấp chiếm phần lớn diện tích xen kẽ thung lũng, dốc thấp dần từ bắc xuống nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 22°C (cao nhất mùa nóng đạt 27,2°C), độ ẩm không khí bình quân 81%.

Tình hình sử dụng đất đai năm 2017: Tổng diện tích đất tự nhiên là 2.263,64 ha, trong đó đất sử dụng cho mục đích kinh tế - xã hội chiếm 1.918,42 ha (84,75%). Cơ cấu chi tiết được tổng hợp qua bảng số liệu sau:

STT Chỉ tiêu loại đất Mã ký hiệu Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
I Đất nông nghiệp NNP 921,20 40,70
1 Đất cây hàng năm CHN 166,32 7,35
2 Đất cây lâu năm CLN 650,00 28,71
- Trong đó: Đất trồng chè - 500,00 22,09
- Đất cây lâu năm khác LNK 150,00 6,63
3 Diện tích mặt nước MNC 38,12 1,68
II Đất lâm nghiệp LNP 959,65 42,39
1 Đất rừng tự nhiên - 81,91 3,62
2 Đất rừng trồng - 798,57 35,28
3 Đất trống - 160,08 7,07
III Đất chuyên dùng CDG 137,87 6,09
IV Đất thổ cư OCT 62,44 2,76
V Đất khác CSD 182,48 8,06
- Tổng diện tích đất tự nhiên - 2.263,64 100,00

Tình hình sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng: Giai đoạn 2015 – 2017 chứng kiến sự chuyển biến rõ rệt khi diện tích trồng chè liên tục mở rộng, trong khi diện tích các loại cây lương thực giảm dần:

Cây trồng Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Cây chè Diện tích (ha) 473,00 485,00 500,00
Năng suất (tạ/ha) 97,25 100,00 102,13
Cây lúa Diện tích (ha) 305,00 299,00 243,00
Năng suất (tạ/ha) 54,75 50,50 49,60
Cây ngô Diện tích (ha) 18,20 15,80 13,00
Năng suất (tạ/ha) 43,25 40,50 41,00
Khoai, sắn Diện tích (ha) 13,50 12,70 12,00
Năng suất (tạ/ha) 163,70 158,66 155,73

Chăn nuôi và dân sinh: Đàn trâu bò năm 2015 có 260 con, năm 2016 giảm xuống 239 con, năm 2017 tăng lên 250 con. Đàn gia cầm tăng mạnh từ 11.000 con (2015) lên 20.000 con (2017). Về dân số năm 2017, toàn xã có 1.527 hộ với 6.125 nhân khẩu (nam giới chiếm 51,05% với 3.127 người). Tổng số lao động trong độ tuổi là 4.437 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm đa số với 3.106 người (70%), lao động phi nông nghiệp là 887 người (20%) và lao động dịch vụ là 444 người (10%).

Thực trạng sản xuất chè và hệ thống làng nghề chè: Địa bàn xã có 7 làng nghề chè được UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận tại các xóm: Phú Nam 2, Phú Nam 3, Phú Nam 4, Phú Nam 5, Phú Nam 6, Phú Nam 7 và làng nghề chè truyền thống xóm Ao Cống. Cơ cấu giống chè năm 2017 toàn xã gồm: giống TRI777 chiếm diện tích áp đảo với 312 ha (chiếm 62,40%), giống chè Trung du chiếm 90 ha (18,00%), giống chè LDP1 chiếm 80 ha (16,00%) và các giống chè khác chiếm 18 ha (3,60%).

Tổ chức và hoạt động của HTX chè Phú Nam 1:

  • Quá trình thành lập: Thành lập ngày 08/10/2017 theo Luật HTX 2012, trụ sở đặt tại xóm Phú Nam 1.
  • Vốn và nhân sự: Vốn điều lệ đạt 660 triệu đồng. HTX có 12 thành viên đại diện cho 12 hộ gia đình sản xuất chè.
  • Bộ máy quản lý: Hội đồng quản trị gồm 4 người (01 Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX là bà Nguyễn Thị Hoàng, 01 Phó Chủ tịch HĐQT, 01 Ủy viên); Ban kiểm soát có 01 kiểm soát viên.
  • Trang thiết bị ban đầu: Sở hữu 12 tôn quay sao chè, 12 máy vò chè và 12 máy đốn chè đặt tại cơ sở các hộ thành viên xóm Phú Nam 1.
  • Ngành nghề đăng ký: Ươm và nhân giống cây trồng nông nghiệp; hoạt động dịch vụ trồng trọt và sau thu hoạch; bán buôn, bán lẻ máy nông nghiệp và phụ tùng; bán buôn phân bón; bán buôn thức ăn gia súc; kinh doanh bán buôn chè khô; khai thác, xử lý, cung cấp nước và vận tải hàng hóa đường bộ.

Phần kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng hợp các kết luận thực tiễn về tính ưu việt của mô hình liên kết hộ thành viên trong HTX. Đề tài xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động:

  • Giải pháp phương thức tổ chức và cán bộ: Củng cố bộ máy điều hành, phân định rõ trách nhiệm giữa quản lý và kiểm soát; tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ năng quản trị kinh doanh cho ban điều hành; vận động kết nạp thêm các hộ trồng chè lân cận.
  • Giải pháp cơ chế chính sách và cơ sở vật chất: Kiến nghị chính quyền tạo điều kiện giao đất xây dựng trụ sở và nhà xưởng chế biến tập trung; hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi; đầu tư hệ thống kênh mương, thủy lợi tưới tiêu cho chè vụ đông và nâng cấp hạ tầng đường giao thông nội đồng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng cụ thể trích xuất trực tiếp từ hồ sơ thực địa:

  • Thống kê chi tiết hiện trạng đất đai xã Phú Đô với 500 ha chè trên tổng số 650 ha đất trồng cây lâu năm; diện tích chè bước vào giai đoạn kinh doanh đạt 470 ha (chiếm 72,31% diện tích đất cây lâu năm).
  • Làm rõ xu thế gia tăng năng suất chè từ 97,25 tạ/ha (năm 2015) lên 102,13 tạ/ha (năm 2017), đi cùng sự thay đổi cơ cấu giống chè với sự chiếm ưu thế của giống chè cành mới TRI777 (312 ha, chiếm 62,40%) thay thế dần giống chè trung du năng suất thấp.
  • Ghi nhận đầy đủ thông tin pháp lý và cơ cấu bộ máy ban đầu của HTX chè Phú Nam 1 với vốn điều lệ 660 triệu đồng, 12 hộ thành viên, trang bị đồng bộ 12 bộ công cụ chế biến (12 tôn quay, 12 máy vò, 12 máy đốn).
  • Đóng góp khoa học của khóa luận: Cung cấp nguồn tư liệu thực tế mô tả bước đi chập chững ban đầu của một HTX nông nghiệp kiểu mới thành lập theo Luật HTX 2012 tại vùng sản xuất chè đặc sản; hệ thống hóa các chỉ tiêu và công thức kinh tế lượng giá (GO, IC, VA, MI, H) làm khung tham chiếu đánh giá kinh tế nông hộ trồng chè.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận được thực hiện vào đầu năm 2018, trong khi HTX chè Phú Nam 1 mới được thành lập vào ngày 08/10/2017. Thời gian hoạt động thực tế của HTX còn quá ngắn khiến các chỉ tiêu tài chính, báo cáo doanh thu kinh doanh và phân chia lợi nhuận qua nhiều năm tài chính chưa có chuỗi số liệu dài hạn để đối sánh. Mẫu khảo sát chuyên sâu mới chỉ tập trung trong phạm vi 12 hộ thành viên sáng lập tại xóm Phú Nam 1.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của HTX sau chu kỳ hoạt động từ 3 đến 5 năm; mở rộng khảo sát phân tích chuỗi giá trị và kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm chè ra các thị trường thành phố; nghiên cứu tác động của các chính sách tín dụng và nhãn hiệu tập thể đối với sự phát triển bền vững của HTX.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc chuyên đề thực tập về tổ chức kinh tế tập thể tại khu vực nông thôn.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp cấp xã, huyện cần tài liệu thực tế về quy trình thành lập, xây dựng điều lệ và đăng ký hoạt động HTX theo Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT và Luật HTX 2012.
  • Các nhà nghiên cứu và người dân vùng chè có nhu cầu tham khảo số liệu chuyển dịch cơ cấu giống chè (giống TRI777, LDP1, Phúc Vân Tiên) và phương pháp tính toán các chỉ tiêu kinh tế sản xuất hộ (GO, IC, VA, MI).

Câu hỏi thường gặp

  1. Hợp tác xã chè Phú Nam 1 được thành lập vào thời gian nào, quy mô vốn và nhân sự ban đầu ra sao? HTX chè Phú Nam 1 được chính thức thành lập vào ngày 08 tháng 10 năm 2017 tại xóm Phú Nam 1, xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổng vốn điều lệ ban đầu của HTX là 660 triệu đồng. Quy mô gồm 12 thành viên đại diện cho 12 hộ gia đình. Bộ máy quản trị gồm Hội đồng quản trị 4 người (do bà Nguyễn Thị Hoàng làm Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX, 01 Phó Chủ tịch, 01 Ủy viên) và 01 kiểm soát viên.

  2. Tỷ lệ cơ cấu các giống chè được trồng tại xã Phú Đô năm 2017 được phân bổ như thế nào? Tính đến năm 2017, toàn xã Phú Đô có tổng diện tích chè là 500 ha. Cơ cấu giống chè được phân bổ gồm: giống chè cành TRI777 dẫn đầu với diện tích 312 ha (chiếm tỷ lệ 62,40%), giống chè Trung du có 90 ha (chiếm 18,00%), giống chè LDP1 có 80 ha (chiếm 16,00%) và các giống chè nhập nội khác chiếm 18 ha (chiếm 3,60%).

  3. Tác giả khóa luận đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu và công thức kinh tế nào để tính toán kết quả sản xuất chè? Nghiên cứu sử dụng hệ thống chỉ tiêu chuẩn gồm: Tổng giá trị sản xuất ($GO = \sum P_i \times Q_i$), Chi phí trung gian ($IC = \sum C_j$, bao gồm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống cấp nước), Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$), Thu nhập hỗn hợp ($MI = VA - (A + W)$ với $A$ là khấu hao và $W$ là công lao động thuê), cùng chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp ($H = Q/C$) thông qua 4 tỷ số so sánh: GO/IC, VA/IC, GO/Công lao động và VA/Công lao động.

  4. Xã Phú Đô có bao nhiêu làng nghề chè được công nhận và phương thức hoạt động sản xuất tại các làng nghề này ra sao? Xã Phú Đô đã được UBND tỉnh Thái Nguyên cấp bằng công nhận 7 làng nghề chè, gồm các làng nghề tại xóm Phú Nam 2, Phú Nam 3, Phú Nam 4, Phú Nam 5, Phú Nam 6, Phú Nam 7 và làng nghề truyền thống xóm Ao Cống. Phương thức sản xuất của làng nghề là sản xuất quy mô hộ gia đình, sau đó sản phẩm sau chế biến được tập trung tại một địa điểm để phân loại, đóng gói và xuất bán ra thị trường.

  5. Trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất, chế biến chè ban đầu của HTX chè Phú Nam 1 gồm những gì? Cơ sở sản xuất ban đầu của HTX chè Phú Nam 1 đặt tại xóm Phú Nam 1 được trang bị đồng bộ phục vụ hộ thành viên bao gồm: 12 tôn quay sao chè, 12 máy vò chè và 12 máy đốn chè.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lưu Thị An đã phản ánh trung thực bức tranh chuyển dịch kinh tế nông nghiệp và thực trạng vùng chè tại xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2015 – 2017. Đề tài làm rõ cơ sở pháp lý, quy trình tổ chức bộ máy và định hướng kinh doanh của Hợp tác xã chè Phú Nam 1 khi mới đi vào hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012 với 12 hộ thành viên và 660 triệu đồng vốn điều lệ. Hệ thống số liệu đất đai, giống cây trồng và các công thức tính toán hiệu quả kinh tế được tác giả tổng hợp có độ tin cậy thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các giải pháp hoàn thiện mô hình HTX nông nghiệp tại địa phương.