Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè theo hướng bền vững 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững 1. Bản chất của phát triển và phát triển bền vững * Bản chất của phát triển: Phát triển kinh tế là giai đoạn lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền KT.
Nó bao gồm sự tăng trưởng KT và bên cạnh đó có sự hoàn thiện về cơ cấu, thể chế KT, chất lượng cuộc sống. Theo cách hiểu như vậy, có thể khái quát nội dung của phát triển kinh tế theo ba tiêu thức: Một là, sự tăng thêm tổng lượng của cải trong mỗi nền KT, theo đó, thu nhập bình quân trên một đầu người ngày càng được nâng cao. Đây là tiêu thức thể hiện giai đoạn biến đổi về lượng của nền KT, là yếu tố cần nhằm cải thiện mức sống vật chất của một đất nước và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển. Hai là, sự chuyển đổi cơ cấu KT theo hướng tăng thêm đóng góp của ngành dịch vụ và công nghiệp chế tạo.
Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất KT của một đất nước. Ba là, sự biến động tích cực liên tục trên các lĩnh vực KT - XH. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển KT trong các đất nước không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu KT, mà là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, năng lực tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân. Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự biến động về chất XH của giai đoạn phát triển.
m 5 * Bản chất của phát triển bền vững: Phát triển bền vững là một định nghĩa mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong XH bây giờ mà trong tương lai xa vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển. Định nghĩa này hiện đang được nhiều đất nước trên thế giới đưa ra mục tiêu hướng tới, mỗi đất nước sẽ dựa theo đặc thù KT, XH, chính trị, địa lý, văn hóa. riêng nhằm hoạch định chiến lược phù hợp nhất với đất nước đó. Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội sự tác động đến môi trường sinh thái học ".
Định nghĩa này được thông báo rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là " sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo có sự phát triển KT hiệu quả, XH công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Nhằm đạt được điều này, tất cả các bộ phận KT - XH, nhà cầm quyền, các tổ chức XH.
phải bắt tay nhau thực hiện để dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - Xã hội - Môi trường. So với phát triển, phát triển bền vững yêu cầu đòi hỏi các bên tham gia trong XH phải nỗ lực nhiều hơn, trên các phương diện nhiều hơn, nó yêu cầu biện pháp khoa học công nghệ cao nhiều hơn, nó yêu cầu sự đồng bộ và gắn kết chặt chẽ hơn. Tất cả vì ý nghĩa toàn diện của nó. Nói cách khác, phát triển có thể chỉ là các biện pháp bây giờ, nhưng phát triển bền vững yêu cầu m 6 các biện pháp KT, kỹ thuật lâu dài, yêu cầu tầm bao quát của tư duy KT cũng như tư duy quản lý XH, quản lý cộng đồng.
Điều kiện của phát triển bền vững * Công bằng và bình đẳng Phát triển bền vững chịu ảnh hưởng rất nhiều vào sự công bằng và bình đẳng. Tùy khả năng của nó, giữa các tầng lớp dân chúng sẽ có sự khác biệt giàu nghèo ít hay nhiều, các chương trình xóa đói giảm nghèo do ngân hàng thế giới và quỹ tiền tệ quốc tế đề xướng sẽ đạt được thành công tới khả năng nào. Công bằng và bình đẳng ảnh hưởng tới năng lực và khả năng đáp ứng yêu cầu của các bộ phận XH. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến, có thêm sự công bằng và bình đẳng thì các nước nghèo sẽ có điều kiện thuận lợi và vì thế sẽ đóng góp thỏa đáng cho phát triển bền vững trong nước và trên thế giới.
* Tinh thần liên đới phụ thuộc lẫn nhau Phát triển bền vững yêu cầu tinh thần liên đới của mỗi đất nước và quốc tế, của thế hệ bây giờ với thế hệ sau này. Cộng đồng thế giới và dân tộc mỗi nước có quyền lợi chung trong bảo toàn di sản sinh thái, đề phòng ô nhiễm. Trong mọi lĩnh vực, các quan hệ gắn kết quốc tế, thỏa thuận và trao đổi cho thấy sự liên hệ chịu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nước. Không thể thiếu vắng quyết tâm chung và là một điều kiện chính để giải quyết các thử thách lớn như quản trị toàn cầu hóa, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường - môi sinh.
* Quyền tự quản, tự quyết Dự án phát triển bền vững không thể thực hiện được nếu quyền tự quản, tự quyết của các đất nước, các sắc tộc, các đoàn thể,. trong việc chọn lựa hướng đi không được công nhận và tôn trọng. Sự khác nhau trên thế giới về vấn đề khách quan, phương án hành động, năng lực phát triển, yêu cầu SX và tiêu dùng,. yêu cầu phải dung hòa các lợi ích toàn cầu với quyền lợi dân m 7 tộc của mỗi đất nước.
Nhằm đạt được các mục tiêu chung ở tầm quốc gia cũng như tầm quốc tế thì phát triển bền vững yêu cầu phải thiết lập các quan hệ đối tác thực tiễn và hợp lý. * Tinh thần trách nhiệm và cùng chia sẻ Chính sách và chương trình phát triển bền vững chờ đợi các đối tượng thụ hưởng cho thấy tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật tự giác, năng lực gánh chịu hậu quả nếu xảy ra. Vì sự liên hệ giữa KT, XH và môi trường và ảnh hưởng của nó lên tất cả các khía cạnh của cuộc sống, phát triển bền vững còn yêu cầu hành động phải có cân nhắc và cẩn trọng với yêu cầu chính là nhằm tránh gây cho môi trường - môi sinh các hậu quả không đảo ngược được, nó yêu cầu phương tiện phòng ngừa và khắc phục thảm họa tự nhiên và năng lực kiểm tra kết quả hoạt động. * Giáo dục huấn luyện và thông tin Dự án phát triển bền vững, các chương trình bảo vệ môi trường - môi sinh không thể thực hiện, có hiệu lực và có kết quả nếu người dân không nhận thức đúng mức về yêu cầu phát triển KT - XH, không ý thức được sự cần thiết của các vần đề và thử thách thời đại và không chấp nhận các bắt buộc hoặc vấn đề của phát triển bền vững.
Giáo dục, huấn luyện và thông tin là các vấn đề không kém quan trọng so với các vấn đề trước của phát triển bền vững. Nội dung phát triển bền vững 1. Phát triển bền vững về kinh tế Phát triển kinh tế bền vững là sự tiến bộ về mọi mặt của nền KT được biểu hiện ở giai đoạn tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự biến động về chất theo hướng tiến bộ của nền KT, gắn với giai đoạn tăng năng suất lao động, sự tác động về cơ cấu KT - XH và môi trường sống. Tăng trưởng kinh tế: Là sự tăng thêm thu nhập của nền KT trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).
Sự tăng thêm được cho thấy ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự tăng thêm ít hay nhiều, m 8 còn tốc độ tăng trưởng được dùng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự tăng thêm chậm hay nhanh giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền KT có thể biểu hiện ở dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập từ giá trị được thể hiện thông qua những chỉ tiêu như GDP, GNI và được tính cho tất cả nền KT hoặc tính bình quân trên đầu người.
Bản chất của tăng trưởng KT là phản ánh sự biến động về lượng của nền kinh tế. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng KT được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu tốc độ và quy mô tăng thu nhập bình quân đầu người. Hơn thế nữa, giai đoạn đó phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quan trọng là khoa học công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu KT hợp lý.
Phát triển bền vững về xã hội Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Có việc làm thì người LĐ mới có quyền, thu nhập và những điều kiện tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Người LĐ nếu không có việc làm, bị thất nghiệp sẽ không có thu nhập, dễ nảy sinh không ít tiêu cực, tệ nạn XH. Theo quan điểm Okun, cứ 1% thất nghiệp tăng thêm ngoài thất nghiệp tự nhiên, thì sẽ làm mất đi 2% GDP.
Tăng trưởng KT phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Mục tiêu đầu tiên của phát triển bền vững là đáp ứng các yêu cầu thấp nhất về ăn mặc, vệ sinh, sức khỏe, nhà ở, nước sạch, giáo dục,. Ngoài ra, thực trạng đói nghèo liên hệ chặt chẽ với sự cân bằng của hệ sinh thái và với chất lượng của môi trường - môi sinh. Tại các nước giàu, nói chung, bộ phận XH có thu nhập không cao thường có nhận thức kém về bảo vệ môi trường - môi sinh và có cuộc sống gây ô nhiễm nhiều hơn tầng lớp có nếp sống cao.
Còn tại các nước chậm tiến, vì phải đáp ứng các yêu cầu thấp nhất và vì không đủ tài chính, kỹ thuật, vật chất và tri thức cho nên không có năng lực bảo vệ môi trường - môi sinh. Không chỉ vậy, tại các nước này, hệ sinh thái bị hư hại, cạn kiệt các nguồn tài m 9 nguyên thiên nhiên, hiện tượng ô nhiễm ngày càng nặng nề.