MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Chè là cây công nghiệp dài ngày, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một sô quốc gia thuộc khu vực châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nước chè là thức uống tốt, rẻ hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và chữa một số bệnh đường ruột. Chính vì những đặc tính ưu việt trên chè đã trở thành 1 đồ uống phổ thông với như cầu tiêu thụ ngày càng tăng trên toàn thế giới. Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển.
Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển. Lịch sử trồng chè nước ta đã có từ lâu, chè cho năng suất sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi. Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du và miền núi Bắc bộ, có diện tích chè lớn thứ 2 trên cả nước. Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè.
Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có chất lượng chè rất cao. Người sản xuất chè tỉnh Thái Nguyên đã có những kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo nên nhưng sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, có vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên,với chất lượng và giá trị cao, 100% sản phẩm chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu. Tuy vậy, nguồn chè cung cấp để sản xuất chè thì vẫn còn rất hạn chế về chất lượng, mẫu mã sản phẩm dẫn tới giá thành của chè xuất khẩu của Việt 2 Nam nói chung và của Thái Nguyên nói riêng có giá thấp hơn so với thị trường trên thế giới. Đồng Hỷ là một huyện nằm phía Đông của tỉnh Thái Nguyên.
Là huyện thuần nông trong đó cây chè là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế của địa phương bởi vì ở đây có vùng chè nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên. Trong đó có xã Minh Lập một xã thuần nông và đây là vùng chè nổi tiếng của huyện cũng như của tỉnh vì ở đây có điều kiện thời tiết tự nhiên thuận lợi để cho cây chè sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên sản xuất chè ở Minh Lập vẫn mang tính chất nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình, sản phẩm chè làm ra không có tính cạnh tranh cao. Trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè vẫn còn nhiều bất cập.
Người dân chỉ biết trồng, chăm sóc, thu hái và sản phẩm làm ra có giá bấp bênh, phụ thuộc vào thị trường. Đặc biệt, ở Minh Lập chưa có bức tranh tổng quát về hiệu quả kinh tế của cây chè cũng như hiệu quả sản xuất của chè so với cây trồng khác. Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài. “Đánh giá hiệu quả kinh tế cây chè giống mới của nông hộ trên địa bàn xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên ”.
Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của các nông dân sản xuất cây chè giống mới trên địa bàn xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây chè giống mới, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã Minh Lập.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa được về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây chè giống mới. - Phân tích đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả sản xuất cây chè giống mới trên địa bàn xã Minh Lập. 3 - Đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây chè giống mới xã Minh Lập.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của để tài 1.1 Ý nghĩa khoa học - Củng cố lý thuyết cho sinh viên. - Giúp rèn luyện kĩ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với công việc, phục vụ tích cực cho quá trình công tác sau này. - Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về hiệu quả sản xuất chè tại địa phương. - Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học.2 Ý nghĩa thực tiễn - Nắm bắt được tình hình sản xuất chè và vị trí của cây chè trong sự phát triển kinh tế của địa phương.
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho các nông hộ. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Lý luận về hiệu quả kinh tế 2. Khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế + Khái niệm: khi đề cập đến hiệu quả cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản là hiệu quả kỹ thuật , hiệu quả phân bố nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Đó là khả năng thu được kết quả sản xuất tối đa với việc sử dụng những yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ nhất định.
Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố [5]. Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể và kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất trong nông nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật phản ánh trình độ, khả năng chuyên môn và tay nghề trong việc sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản phẩm, nó chỉ ra một nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm [5].
Hiệu quả phân bố: Hiệu quả phân bố là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Hiệu quả phân bố phản ánh khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào một cách hợp lý để tối thiểu hóa chi phí với một lượng đầu ra nhất định nhằm đạt được lợi nhuận tối đa. Thực chất của hiệu quả phân bố là hiệu quả linh tế có tính đến các yếu tố đầu vào và đầu ra nên hiệu quả phân bố còn được gọi là hiệu quả về giá [5]. Hiệu quả kinh tế: 5 Hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa.
Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố giá trị hiện vật đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì phải đồng thời đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bố [5]. Bản chất hiệu quả kinh tế: Khi nghiên cứu về bản chất kinh tế các nhà kinh tế học đã đưa ra những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất chung bản của nó. Người sản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn.
Chúng ta tiến hành so sánh kết quả đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thì có hiệu quả kinh tế. Sự chênh lệnh này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại. Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng xuất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội là hai mặt của một vấn đề kinh tế. Tuy nhiên hai mặt này có mối quan hệ mật thiết với nhau, gắn liền với quy luật tương ứng của nền kinh tế xã hội, là quy luật tăng năng xuất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian.
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt được hiệu quả tối đa về chi phí nhất định hoặc ngược lại, đạt được kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội [5]. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế Biết được mức độ hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất nông nghiệp.
Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại đạt được hiệu quả kinh tế cao thì tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ [6]. Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế Như chúng ta đã biết hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa kết quả thu được và lượng chi phí bỏ ra trong một quá trình sản xuất. Do đó muốn xác định được hiệu quả kinh tế thì ta phải xác định được lượng chi phí và kết quả bỏ ra. Chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh là những chi phí cho các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, tiền vốn, nguyên vật lệu.
Tùy theo mục đích phân tích và nghiên cứu mà chi phí bỏ ra có thể tính toàn bộ hoặc có thể tính chi phí cho từng yếu tố. Sau khi đã xác định được kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra chúng ta có thể được hiệu quả kinh tế và có thể dùng những phương pháp sau. H= H: Hiệu quả kinh tế Q: Kết quả C: chi phí Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, do đó giúp ta so sánh được hiệu quả ở các quy mô khác nhau. Thứ hai, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra.