mở đầu cuộc xâm lược nước ta. 3 Lê Quý Đôn (2011),Phủ biên tạp lục, QIII, tr.223, dẫn theoĐịa chí Đồng Nai, (tập 3 - Lịch sử). NXB Tổng hợp Đồng Nai. 4 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Q.375, dẫn theoĐịa chí Đồng Nai, (tập 3 - Lịch sử).NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001.
13 14 Tháng 2 năm 1859 chúng kéo vào đánh chiếm thành Gia Định. Âm mưu mở rộng chiến tranh ở Nam Kỳ đã rõ ràng. “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”, truyền thống yêu nước tiềm ẩn trong dòng máu người dân Việt từ ngàn xưa. Xã tắc nguy biến, mỗi người đều muốn góp phần cứu nước, cứu nhà.
Hàng cản đá ong ngầm dưới nước được xây dựng ngang dòng Đồng Nai trước cửa chùa Ông nhằm ngăn tàu giặc lả chứng tích cụ thể phần công sức của dân cù lao Phố chống ngoài xâm cách đây hơn một trăm năm. Hơn 3 thế kỷ đã trôi qua, nhưng trong những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Cù lao Phố, vẫn hiển hiện tinh hoa của một bản sắc văn hóa Việt mang hơi thở đầy sức sống của hào khí Đồng Nai. Đó là bao thuần phong mỹ tục đã ăn sâu vào tâm hồn Việt hòa quyện với văn hoá vùng đất mới tạo nên một tính cách Nam bộ hào phóng và nhân hậu. Đó là tình yêu quê hương đất nước, yêu con ngươì ẩn chứa trong từng câu ca dao, từng điệu lý câu hò của kho tàng văn học dân gian Đồng Nai, trong tín ngưỡng, phong tục của con người nơi này.Không chỉ có sự hòa quyện về văn hóa, với vị thế của một thương cảng sầm uất, trên đất Cù lao Phố lúc bấy giờ nhiều công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng đã được dựng lên.
Những công trình ấy không chỉ là nơi thờ tự tín ngưỡng của cư dân Cù lao mà còn là nơi chiêm ngưỡng viếng thăm, vãn cảnh của các cư dân đến từ các vùng lân cận và cả những khách hàng đến giao thương mua bán. Hiện nay hiếm có đơn vị hành chính cấp xã nào ở Nam Bộ lại có mật độ nhiều công trình tôn giáo tín ngưỡng như ở Cù lao phố. Điều này chứng minh sự hiển hiện, giao thoa của những không gian tâm linh, của những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Đạo giáo. Trên mảnh đất là Cù Lao Phố, hiện còn nhiều lưu giữ nhiều ngôi chùa, tịnh xá, đình, miếu.
Trong đó, có nhiều di tích lịch sử – văn hóa quan trọng của đất Đồng Nai và Nam Bộ như Chùa Ông, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (đình Bình Kính), Chùa Đại Giác. Trong đó đình Bình Kính là nơi đã quàn tạm quan tài của đức ông Nguyễn Hữu Cảnh trước khi chuyển về chôn cất ở quê hương Quảng Bình. Hàng năm vào các dịp lễ, tết bà con người Việt gốc Hoa từ Thành phố Hồ Chí Minh và các nơi 14 15 khác về đây cúng bái, hành hương tại chùa Ông, khách thập phương trong và ngoài tỉnh cũng chọn nơi này là điểm đến tâm linh thiêng liêng gửi gắm những cầu mong ước nguyện. Có thể nói, dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử trên mảnh đất Cù Lao phố vẫn tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, đan xen, làm nên một không gian văn hóa tâm linh đa dạng giữa lòng thành phố Biên Hòa.
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, cù lao Phố có khoảng hai ngàn dân, hơn bốn trăm hộ. Ba làng Nhất Hòa, Nhị Hòa, Tam Hòa cơ số hộ, sốdân không chênh lệch nhau bao nhiêu. Các dòng họ Nguyễn, Lê, Trương, Huỳnh là các dòng họ lớn (được gọi một cách kính trọng là kiếng họ) đến sinh cơ lập nghiệp từ lâu đời, chiếm tỷ lệ cao trong xã. Ở Bình Tự có ngôi mả ngói rất xưa, họ Nguyễn nhận đó là mổ mả tổ tiên mình.
Các họ Phan, Trần, Đặng, Phạm, Võ, Đỗ, Tống, Bì cũng xuất hiện cách nay gần ba trăm năm, nhưng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Theo tự thuật của ông Bì Văn Lâu thì họ Bì gốc Tàu. Họ Tống Đình cũng gốc Tàu, tuyệt tự cách nay gần hai trăm năm, đời ông Tống Đình Dục. Vợ ông Dục họ Nguyễn xin một người cháu là Nguyễn Hữu Chi làm con nuôi, đổi tên là Tống Đình Huê.
Khi đó, nhà cửa của dân cù lao chủ yếu là nhà tranh hoặc là dừa nước đơn sơ. Ấp Tân Mỹ, Tân Giám có nhiều nhà lợp ngói âm dương, vách ván hơn các ấp khác, nay còn soát lại hơn một chục căn khá cổ. Người dân cù lao Phố chất phác, hiền lành, hiếu khách, mọi người sống với nhau rất thân thiết như câu nói: “bà con xa không qua láng giềng gần”. Dân cù lao Phố sống bằng nhiều nghề.
Thuở ban sơ khi các xóm ấp mới tạo lập thì nghề nông là quan trọng hàng đầu vì nó giải quyết vấn đề lương thực – nhu cầu sống còn. Đất phù sa màu mỡ được nước ngọt sông Đồng Nai tưới mát quanh năm. Ruộng lúa nước chiếm gần ba trăm mẫu, hơn một phần ba diện tích đất tự nhiên của cù lao nhưng ngày xưa dân làng chỉ làm một vụ mùa nhờ nước mưa mà thôi. Ngoài lúa, bà con còn trồng mía làm đường, trồng đậu và bưởi… Mỗi nhà đều có vườn cây ăn quả.
Cù lao Phố thuở ấy là một làng vườn xanh tươi mỗi độ thu về, quả trĩu nặng trên cành. 15 16 Bưởi tỉnh Biên Hòa (cũ) là đặc sản lâu đời, trong đó Tân Triều nổi tiếng về loại bưởi ổi và bưởi đường da cóc ngọt lịm. Cù lao Phố có bưởi đường da láng ngọt sắc và bưởi thanh trà có vị dôn dốt chua được nhiều người ưa thích. Bưởi là nguồn thu đáng kể của từng nhà, đứng sau lúa: một phần tiền bán bưởi được đóng góp ủng hộ kháng chiến.
Chất độc hóa học Mỹ khai quang hủy diệt tất cả các vườn cây trái xum xuê đất cù lao vào giữa thập kỷ 60. Nhiều nghề thủ công từng được mở mang trên đất cù lao Phố và phát triển đến mức cực thịnh. Qua sự biến đổi của thời gian và chịu sự tác động của bàn tay con người nên tới ngày nay một số nghề truyền thống đã biến mất. Đất phù sa của sông Đồng Nai rất thích hợp trồng dâu nuôi tằm, nghề dệt thủ công một thời khá thịnh vượng.
Phạm vi của nghề dệt nằm ở ấp Tân Mỹ, Tân Giám xưa có tên là xóm Cửi. Chợ Chiếu Xưa, hồi đó có một số quán lợp lá là vựa chuyên bán chiếu. Đầu thế kỷ 20, cù lao này được khai khẩn đề trồng trọt, cói không còn nên nghề dệt chiếu cũng tiêu vong. Cái tên chợ Chiếu chỉ còn là kỷ niệm mờ nhạt về một nghề thủ công truyền thống đã mai một, lớp trẻ ngày nay ít biết đến.
Nghề gốm cũng một thời phát triển, nay chỉ còn lưu lại một số địa danh như: rạch Lò Gốm (Bình Quan), Ngọn Gốm (Bình Hòa), bến Sành (Long Quới). Nghề đúc đồng là nghề truyền thống tồn tại lâu nhất, tới thời kỳ kinh tế khủng hoảng đầu những năm 1930 mới hết. Thợ đúc đồng ở Thành Hưng đúc nhiều mặt hàng : tượng phật các loại, chuông nhỏ cho vào tay nải để làm đám ma hoặc cúng lưu động, chuông lớn (đại hồng chung) cao gần hai mét có hoa văn tứ linh (long, lân, quy, phụng) mỗi khi đánh, tiếng vang xa hàng cây số. Nghề nông và nghề thủ công phát triển là cơ sở thúc đẩy thương nghiệp phát triển, nhất là từ khi thương nhân người Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến sinh cơ lập nghiệp.Từ sự phát đạt của 16 17 thương nghiệp đã lôi kéo những ngành nghề thủ công khác đến như: dệt chiếu, tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường, làm bột, đồ gỗ gia dụng, chạm khắc gỗ, đóng thuyền, làm pháo v.
Cảnh mua bán rộn rịp cũng được Trịnh Hoài Đức ghi lại: “Các thuyền ngoại quốc tới nơi này (cù lao Phố) bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai các số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, tốt lẫn xấu, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ động. Đến ngày trở buồm về, gọi là “hồi đường”, chủ thuyền cần mua món hàng gì, cũng phải làm sẵn hóa đơn đặt hàng trước nhờ mua dùm. Như thế, khách chủ đều được tiện lợi và sổ sách phân minh.
Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, lại khỏi lo ván thuyền bị hà ăn, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi…5” Cù lao Phố tuy chưa nổi tiếng là đất văn vật nhưng thời nào cũng sản sinh một số trí thức. Cách đây trên một trăm năm, ông Đào Văn Thông đỗ đạt, trở thành quan hàn lâm trong triều. Dòng họ Nguyễn Hữu ở Tân Mỹ là một dòng họ lớn chủ yếu làm thầy đồ. Thời thuộc Pháp, một số thầy giáo được cả xã biết tiếng : thầy giáo Thiệt, thầy Thời, thầy Trinh, thầy Ngói, thầy Sơn, cô Nhàn… Một số công chức được dân “nâng lên” chức thông phán : ông phán Cảnh làm sở Trường Tiền (giao thông công chánh), ông phán Độ phát tiền (thủ quỹ) sở công chánh, ông phán Diệp làm ở Sài Gòn, ông phán Hải và ông thông Thinh làm sở dây thép (bưu điện)… thầy Ba Hiệp và ông Tư Thục làm trong sân bay, ông chủ nhựt trình Kiến viết báo… Một số nhà giàu bỏ tiền mua chức hàm: ông già kinh lý Nhơn mua hàm hàn lâm, ông Mun mua phủ hàm, ông Tửu mua huyện hàm… Người cù lao thờ cúng ông bà tổ tiên theo tập tục lâu đời.
Tín đồ đạo Phật thực thụ không đông nhưng cả xã có chín ngôi chùa và hai tịnh xá. 5 Trịnh Hoài Đức ,Gia Định thành thông chí, mục Xuyên Sơn chí,(Bản dịch của Lý Việt Dũng, Huỳnh Văn Tới hiệu đính). Nxb Đồng Nai, 2005. 17 18 Chùa Đại Giác khi được dựng lên, chỉ là một ngôi chùa nhỏ, cột cây, vách ván, lợp ngói âm dương.
Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, vào năm 1779, công chúa thứ ba của Nguyễn Ánh là Nguyễn Thị Ngọc Anh trong cơn binh lửa, đã có lần đến ẩn náo tại chùa Đại Giác. Khi Gia Long lên ngôi, nhớ đến ơn ngày trước, vua đã ban chiếu cho trùng tu năm 1802. Đến năm 1820, vua Minh Mạng cũng tiếp tục cho sửa rộng lớn hơn. Công chúa Ngọc Ánh đã cúng dường một bức hoành phi sơn son thếp vàng có khắc ba chữ "Đại Giác Tự".
Bên trái khắc "Minh Mạng nguyên niên, mạnh đông cốc nhật", bên phải khắc "Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Ánh phụng cúng". Tấm hoành phi này đến ngày nay vẫn được treo trước chánh điện.