chương 1. Du lịch văn hóa tâm linh là một trong những sản phẩm của du lịch văn hóa; lấy nhu cầu tâm linh làm tiền đề và mục đích cho sự phát triển. Loại hình du lịch này với bản chất là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh, tín ngưỡng nên nó cũng có ý nghĩa đặc thù của mình. Tùy theo các nhu cầu của khách du lịch loại hình này được thể hiện qua các hoạt động cụ thể như: du lịch tôn giáo, du lịch lễ hội.
- Tuy nhiên điểm chung là dù ở hoạt động nào họ cũng muốn được thỏa mãn nhu cầu thiết yếu nhất của mình là nhu cầu tâm linh. Ở Việt Nam, du lịch tâm linh được coi là loại hình văn hóa chuyên đề, một nhân tố phát huy giá tri tinh thần, lòng yêu nước, niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tông hợp của đất nước. Văn hóa, tín ngưỡng không chi là cốt lõi của sản phẩm du lịch này mà cũng là sợi dây kết nối tâm hồn người Việt Nam với nhau và với bạn bè trong khu vực và quốc tế. Có thé khẳng định loại hình du lịch này mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc khó có thê thay thế được.
Chương 2: Hoạt động du lịch văn hóa tâm linh ở Ninh Bình. — Khái quát về Ninh Bình. Các điều kiện phát triển của tỉnh.1 Điều kiện ty nhiên. s* Vi trí địa lí.
Ninh Bình nằm ở cực Nam Đồng bằng Bắc Bộ, vị trí giới hạn từ 190° 50? đến 200° 27’ độ Vĩ Bắc, 105° 32? dén 106° 27° độ Kinh Đông, nằm ở vị trí là ranh giới của ba khu vực địa lí: Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Đồng thời tỉnh cũng năm giữa ba vùng kinh tế: Hà Nội, vùng duyên hải Bắc Bộ và vùng duyên hải miền Trung. Phía Bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam; phía Đông giáp Nam Định qua sông Đáy; phía Tây giáp Thanh Hóa; phía Đông Nam giáp biển (vịnh Bắc Bộ). Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình, cách thủ đô Hà nội 93 km về phía Nam.
Tỉnh có diện tích 1376,7km” (năm 2012, Nguồn: Tổng cục thống kê) s* Địa hình. Ninh Bình có cả ba loại địa hình. Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía Tây Bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp. Vùng đồng bằng ven biển ở phía Đông Nam thuộc hai huyện Kim Sơn và Yên Khánh.
Xen giữa hai vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyên tiếp. Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng âm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9: mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 4 và tháng 10 là mùa xuân và mùa thu, tuy nhiên không rõ rệt như các vùng nằm trên vành đai nhiệt đới. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1700 — 1800mm. Nhiệt độ trung bình của tinh là 23,5°C.
Số giờ nắng trong năm 1600 — 1700 giờ. Độ âm tương đối trung bình: 80 — 85%. s* Tài nguyên sinh vật. Rừng ở Ninh Bình có cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại.
Có bốn khu rừng đặc dụng là: Cúc Phương, rừng môi trường Vân Long, rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư và rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn. Một số hệ sinh thái rừng đặc sắc như Vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, rừng đặc dụng núi đá Hoa Lư và rừng ngập mặn ven biển chính là nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao với các loại động thực vật đặc hữu. Đặc biệt ở Vườn quốc gia Cúc Phương có Voọc quan đùi trắng được ghi trong sách đỏ. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu sinh học về gen, các giống loài sinh học, phát triển đa dạng dịch vụ du lịch sinh thái rừng.
s* Cảnh quan thiên nhiên. Ninh Bình được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp nổi tiếng trong nước và quốc tế, có thể phục vụ phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch sinh thái (Vườn quốc gia Cúc Phương, khu Tam Cốc - Bích Động. ), du lich văn hóa lich sử (Cố đô Hoa Lư, quan thể danh thắng hang động Trang An. Đến nay tỉnh đã tiến hành khai thác được nhiều cảnh quan thiên nhiên phục vụ cho hoạt động du lịch.
s* Tài nguyên nước. Bao gồm tài nguyên nước mặt và nước ngầm. Tài nguyên nước mặt khá đồi dào, thuận lợi cho việc tưới tiêu, phát triển nông nghiệp và địch vụ giao thông vận tải thủy. Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình gồm nhiều sông lớn như sông Day, sông Hoàng Long, sông An, sông Vân.
với tổng chiều dài 496 km, phân bố rộng khắp trong toàn tỉnh. Mật độ sông suối bình quân 0,5km/km”, các sông thường chảy theo hướng Tây Bắc — Đông Nam dé ra biển Đông. Ngoài ra còn có 21 hồ chứa nước lớn, diện tích 1270ha, với dung tích 14,5 triệu m 3 nước, năng lực tưới cho 4438 ha. Nước ngầm chủ yếu thuộc địa bàn huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp.
Tổng lượng nước ngầm ở Nho Quan đạt 361.391m /ngày, vùng Tam Điệp 112. Ngoài ra còn có nguồn nước khoáng chất lượng tốt tập trung ở Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) được khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn. e Tài nguyên biên. Bờ biển dài 18km với hàng nghìn ha bãi bồi.
Cửa Day là cửa lớn nhất, có độ sâu khá, đảm bảo tàu thuyền lớn, trọng tải hàng nghìn tấn ra vào thuận tiện. Vùng biển Ninh Bình có tiềm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt nguồn lợi hải sản với sản lượng từ 2000 — 2500 tắn/năm. s* Tai nguyên khoáng sản. Ninh Bình có nguồn tài sản đá vôi lớn với trữ lượng hàng chục tỉ mét khối đá vôi và hàng chục triệu tấn đôlômít.
Đây chính là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng và một số loại hóa chất khác. Điều kiện xã hội, nhân văn. Tính đến năm 2012, dân số Ninh Binh đạt 915,900 người (Nguồn: Téng cục thống kê) chiếm 4,5% dân số khu vực đồng bằng sông Hồng và chiếm 1,03% dân số cả nước. Trên địa bàn tỉnh có hai dân tộc chính là dân tộc Kinh va dan tộc Mường.
Dân tộc Kinh chiếm khoảng 98%, dân tộc Mường chiếm 2%. Mật độ dan số là 665 người/km”, thấp hơn mật độ trung bình của vùng. Đây là lợi thế cho việc cung cấp nguồn lao động, thuận lợi trong quản lí và không gây sức ép quá lớn lên phát triển kinh tế tỉnh. s* Về giao thông.
Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam. + Đường bộ: trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A, quốc lộ 10, quốc lộ 12A, 12B, 59A chạy qua, dam bảo giao thông thông suốt. + Đường sắt: tuyến đường sắt Bắc — Nam chạy qua tinh Ninh Bình có chiều dài 19km với bốn ga: Ninh Bình, Cầu Yên, Ghềnh và Đồng Giao. Điều này đã tạo điều kiện thuận tiện cho việc vận chuyển hành khách, hàng hóa và vật liệu xây dựng.
+ Đường thủy: tỉnh Ninh Bình có hệ thống giao thông thủy rất thuận lợi do có nhiều con sông lớn như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, sông Vân, sông Lạng. Ngoài ra còn có các cảng lớn như: cảng Ninh Phúc, Ninh Bình, Kim Sơn góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 20 Các hoạt động văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân dần ổn định, mức sống của người dân được cải thiện. Công tác quốc phòng an ninh được tăng cường.
Chính trị, trật tự xã hội được đảm bảo. Kinh tế của tỉnh ngày càng được chú trọng phát triển, trong đó du lịch và công nghiệp là hai ngành trọng điểm được định hướng phát triển. Mức tăng GPD năm 2013 của Ninh Bình tăng 10,02% so với năm 2012. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản còn có những khó khăn, thách thức nhưng Tỉnh ủy — HĐND — UBND tỉnh đã kịp chỉ đạo điều hành cùng với sự quyết tâm của các cấp các ngành cùng với sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân thì kinh tẾ - xã hội tỉnh đã đạt được những kết quả tích cực về sản xuất công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp và các ngành dịch vụ như du lịch, bảo hiểm, y tẾ.
s* Tài nguyên nhân văn. e Di tích lịch sử văn hóa. Ninh Binh là một vùng đất có lịch sử lâu đời, với nhiều đấu ấn lịch sử được ghi lại ở vùng đất này. Một số di tích tiêu biểu như: chùa Bái Đính, danh thắng Tràng An, Cố đô Hoa Lư.
Ninh Bình có 443 lễ hội truyền thống: trong đó cấp tỉnh có 2 lễ hội, cấp huyện 13 lễ hội, cấp xã 428 lễ hội. Phần lớn các lễ hội diễn ra vào mùa xuân, trừ một số lễ hội tưởng niệm ngày mất của các vị danh nhân. Một số lễ hội đặc sắc được đông đảo nhân dân trong tỉnh và cả nước biết đến như: lễ hội Cố đô Hoa Lư, lễ hội đền Thái Vi, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội Báo bán làng Nộn Khê, lễ hội Yên Cư, lễ hội đền Trần Ninh Bình. e Hoạt động làng nghề truyền thống.
Theo thống kê của Sở công thương tỉnh Ninh Bình, trên địa bàn tỉnh có 60 làng nghề truyền thống, trong đó có 36 làng nghề được UBND tỉnh công nhận (gồm 16 làng nghề chiếu cói, 5 làng nghề chế tác đá mĩ nghệ, 4 làng nghề thêu ren, 5 làng nghề mây tre đan, 1 làng sản xuất cốt chăn bông, 2 làng làm bún, 2 làng làm mộc, 1 làng làm đồ gốm mĩ nghệ). Một số làng nghề tên tuổi như làng nghề điêu khắc đá Ninh Vân — Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, làng nghề mộc Phúc Lộc, làng nghề thêu ren Văn Lâm, làng nghề chiếu cói ở Kim Sơn. Tỉnh đang phát triển du lịch kết nối việc tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh kết hợp với thăm các làng nghề thủ công truyền thống có sản phẩm được đông đảo người dân cả nước biết đến vừa tạo ra sự phát triển cho các làng nghề vừa tạo nên nét đặc trưng, món quà lưu niệm mang đậm chất Ninh Bình tới du khách.2 Tình hình phát triển du lich tinh Ninh Binh. Kể từ khi tái lập tỉnh, đặc biệt từ sau 2000 đến nay, du lịch Ninh Bình nhận được rất nhiều sự quan tâm, chỉ đạo từ lãnh đạo tỉnh và Sở VHTT&DL tỉnh.