Chương 1: Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế trong hoạt động của Trung tâm Thông tin - thư viện trường Đại học Y tế công cộng Chương 2: Thực trạng tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Y tế công cộng. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Y tế công cộng. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔ CHỨC VÀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNGTIN Y TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG 1. Các vấn đề chung về tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin y tế 1.
Nguồn lực thông tin Nguồn tin Ngày nay, trong hoạt động TT-TV, cùng với thuật ngữ “vốn tài liệu” là sự xuất hiện thuật ngữ “nguồn tin”. Ở một khía cạnh nào đó nguồn tin có thể được hiểu là vốn tài liệu. Nguồn tin tồn tại dưới nhiều vật mạng tin và con người có thể khai thác và sử dụng chúng theo nhiều cách khác nhau và những mục đích khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn tin: Theo nghĩa rộng: nguồn tin tương đương với tiềm lực thông tin.
Theo nghĩa này, nguồn tin bao gồm nguồn tin và các yếu tố khác nhau tạo nên hoạt động thông tin như cơ sở vật chất, kinh phí và nhân lực. Theo nghĩa hẹp: nguồn tin được hiểu là khi sử dụng tương đối phù hợp với nhu cầu tin của nhóm người dùng tin nhất định, được tổ chức quản lý kiểm soát có thể truy cập và chia sẻ dễ dàng. Nguồn tin bao gồm: các dữ liệu được thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước hoặc không theo quy ước, các sưu tập kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng. Nguồn tin là phần tích cực của tiềm lực thông tin, được kiểm soát giúp con người có thể truy cập, tìm kiếm, khai thác sử dụng được và phục vụ cho các mục đích khác nhau trong hoạt động của con người.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo đó, nguồn tin là sản phẩm trí tuệ, là sản phẩm lao động khoa học, kiến thức, suy nghĩ, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó. Nguồn lực thông tin Muốn khai thác và sử dụng nguồn tin hợp lý, đòi hỏi nguồn tin phải được quản trị, được quản lý. Quản lý thông tin là phải đưa thông tin vào sử dụng, quay vòng và đưa thông tin đến đúng với NDT giúp họ tạo ra những sản phẩm mới. Với cách quản lý như vậy, thông tin chính là tài sản, là nguồn lực của xã hội.
Nguồn lực thông tin khác hẳn với các loại nguồn lực khác trong xã hội. Nếu như các nguồn lực khác càng sử dụng nhiều càng cạn kiệt thì ngược lại, nguồn lực thông tin càng dùng nhiều, càng phong phú và càng có tính giá trị gia tăng vì mỗi người dùng thông tin lại tạo ra thông tin mới. Nguồn lực thông tin phản ánh một phần kết quả hoạt động sáng tạo của con người, một bộ phận của tiềm lực thông tin được kiểm soát, tổ chức- giúp cho con người có thể dễ dàng truy cập, khai thác và sử dụng phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Nguồn lực thông tin và thông tin tiềm năng cần được phân biệt rõ ràng.
Thông tin tiềm năng là thông tin tồn tại ở dạng tự nhiên và xã hội, nhưng để khai thác được phải đưa vào quản lý thông qua thu thập, xử lý, lưu trữ và có thể truy nhập tới được.Những thông tin đã được quản lý, kiểm soát phục vụ được cho lợi ích phát triển thì được gọi là nguồn lực thông tin. Đối với những nước đang phát triển tiềm lực thông tin để tạo ra được nguồn lực thông tin là một vấn đề rất khó khăn và phức tạp. Do vậy những nhiệm vụ và chiến lược của mỗi quốc gia phải biến những thông tin tiềm năng thành nguồn lực thông tin, nó được sử dụng và khai thác. Nguồn lực thông tin y tế 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm Thông tin y tế là những thông tin mô tả về các yếu tố liên quan đến sức khỏe con người và cộng đồng. Thông tin y tế có thể mô tả các lĩnh vực khác nhau trong ngành y tế và cả những lĩnh vực ngoài ngành y tế có liên quan với y tế. Nguồn lực thông tin y tế là các thông tin y tế đã được quản lý, kiểm soát phục vụ phát triển. Vai trò của nguồn lực thông tin y tế Nguồn lực thông tin y tế có vai trò quan trọng trong hệ thống y tế.
Nó cung cấp bằng chứng kịp thời, đầy đủ, chính xác, thích hợp cho các nhà lãnh đạo, quản lý các chương trình, các hoạt động y tế để họ đưa ra những quyết định đúng đắn. Nguồn lực thông tin y tế được sử dụng để phân tích xác định vấn đề, xác định vấn đề ưu tiên, lựa chọn chiến lược lập kế hoạch chương trình, hoạt động; Thực hiện và điều hành giám sát; Đánh giá kết quả, hiệu quả; Xây dựng các tiêu chuẩn, chuẩn mực cho hoạt động Nguồn lực thông tin y tế rất cần thiết và được sử dụng thường xuyên trong việc xây dựng kế hoạch công tác cho các cơ sở y tế và cơ quan y tế. Nguồn lực thông tin y tế là cơ sở cho việc quản lý, giám sát, kiểm tra, theo dõi thực hiện kế hoạch y tế. Dựa vào phân tích các thông tin đầu ra để thấy những thành tích đạt được, trên cơ sở đó động viên, khuyến khích được các cán bộ đang công tác.
Đồng thời cũng phát hiện được những sai lầm, khuyết điểm cần phải sửa chữa làm cho công tác y tế ngày càng tốt hơn. Dựa vào nguồn lực thông tin y tế, các nhà quản lý có thể phân tích và đánh giá các hoạt động y tế. Những đánh giá này sẽ giúp xây dựng các chiến lược, chính sách và kế hoạch hoạt động thích hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Nguồn lực thông tin y tế giúp cho việc đánh giá hiện trạng sức khỏe, mô hình bệnh tật, tử vong, đồng thời dự đoán được quy mô, xu hướng phát triển sức khỏe 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học.
Những thông tin về sức khỏe bệnh tật là tư liệu có giá trị, giúp cho các cán bộ, bệnh tật xảy ra trong tương lai của nhân dân ta một cách tiến hành các chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ cho sức khỏe nhân dân và cải tiến công tác của ngành ngày một tốt hơn. Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin 1. Khái niệm Tổ chức nguồn lực thông tin y tế là phương thức sắp xếp các nguồn thông tin sao cho khoa học và hiệu quả. Việc tổ chức các nguồn lực thông tin y tế bao gồm việc tổ chức các kho tài liệu, tổ chức các công cụ tra cứu và tổ chức website.
Khi nguồn lực thông tin y tế được tổ chức khoa học thì việc khai thác nguồn lực thông tin trở nên dễ dàng, thuận lợi. Khai thác các nguồn lực thông tin là sự truy cập đến các nguồn tin và sử dụng chúng một cách hợp lý, hữu ích cho NDT. Mối quan hệ giữa tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu nguồn lực thông tin được tổ chức tốt, khoa học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác thông tin có hiệu quả.
Ngược lại, nếu nguồn lực thông tin tổ chức không tốt, lộn xộn, NDT sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi khai thác thông tin. NDT sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức để tìm được nguồn thông tin mình cần. Việc tổ chức thông tin không khoa học còn dẫn đến tình trạng mất tin, nhiễu tin, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin của NDT khi sử dụng. Tổ chức có tác động và ảnh hưởng đến khai thác nguồn lực thông tin.
Bên cạnh đó, khai thác nguồn lực thông tin cũng có sự tác động trở lại đến việc tổ chức nguồn lực thông tin. NDT khi khai thác các nguồn tin sẽ thu được những kết quả phù hợp hoặc không phù hợp với mục đích của mình. Trong quá trình tìm kiếm thông tin, NDT sẽ có những thuận lợi cũng như khó khăn. Tất cả những điều này sẽ được NDT phản ánh lại với thư viện.
Từ đó, thư viện sẽ điều chỉnh lại công tác tổ chức nguồn 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực thông tin cũng như các hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu của NDT, thỏa mãn NDT. Như vậy, tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin là hai mặt có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Khái quát về Trƣờng Đại học Y tế công cộng 1. Lịch sử hình thành và tương lai phát triển YTCC Việt Nam so với các quốc gia phát triển còn khá non trẻ.
Từ ngày thành lập nước, Việt Nam đã khẳng định Y học dự phòng luôn là ưu tiên hàng đầu, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Trong suốt giai đoạn này y học dự phòng Việt Nam phát triển chủ yếu theo mô hình của Liên Xô cũ, nhấn mạnh vào công tác phòng và chống các bệnh truyền nhiễm. Sự phát triển của ngành YTCC tại Việt Nam gắn liền với sự ra đời của trường ĐHYTCC mà tiền thân là trường Cán bộ y tế trung ương, được thành lập năm 1956, là sự kết hợp của hai trường Y sĩ Việt Nam (ra đời năm 1948) và Dược sĩ Việt Nam (ra đời năm 1952). Trong giai đoạn đầu từ 1956 đến 1975, trường Cán bộ Y tế Trung ương đã cung cấp cho đất nước một lượng lớn cán bộ y tế qua đào tạo bổ túc.
Cũng thời gian này, với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), …, nhiều chương trình sức khỏe cộng đồng đã được thiết lập như Chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống tiêu chảy, phòng chống suy dinh dưỡng, dân số và kế hoạch hóa gia đình … Những hoạt động đa dạng như vậy dần dần đòi hỏi ngành y tế phải có đội ngũ làm công tác quản lý được đào tạo chính quy.