Tổng quan nghiên cứu

Không gian văn hóa Đất Tổ Phú Thọ sở hữu tài nguyên nhân văn phong phú, trong đó cộng đồng người Dao giữ vai trò đặc biệt quan trọng với quy mô hơn 13.000 người, chiếm trên 0,9% dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2015. Toàn quốc hiện có hơn 750.000 người Dao cư trú rải rác ở các vùng núi phía Bắc. Tại Phú Thọ, đồng bào tập trung chủ yếu tại 3 địa bàn vùng cao gồm các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập. Mặc dù du lịch toàn tỉnh có bước tiến mạnh mẽ khi lượng khách tăng từ 1 triệu lượt năm 2000 lên 6,1 triệu lượt năm 2012 cùng tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt 9,25%/năm, nhưng hoạt động du lịch tại các bản người Dao vẫn mang tính tự phát, manh mún và chưa tương xứng với tiềm năng.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự xung đột giữa yêu cầu bảo tồn di sản nguyên bản và mục tiêu thương mại hóa du lịch, dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc cùng sinh kế bấp bênh của cư dân bản địa. Mục tiêu của nghiên cứu là nhận diện toàn diện các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của 2 nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khoa học nhằm khai thác di sản gắn với phát triển du lịch cộng đồng bền vững giai đoạn từ năm 2010 đến nay.

Về mặt thực tiễn, công trình tạo lập luận cứ cho chính quyền địa phương chuyển đổi sinh kế cho đồng bào, tối ưu hóa chuỗi giá trị dịch vụ homestay và nâng cao tỷ lệ hưởng lợi trực tiếp của cộng đồng lên trên 60% tổng doanh thu du lịch tại điểm đến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng theo khung tiêu chuẩn của Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới và các học giả chuyên ngành. Lý thuyết này chỉ rõ cộng đồng bản địa phải giữ quyền kiểm soát quy hoạch, tham gia vận hành và giữ lại phần lớn lợi nhuận kinh tế nhằm giảm nghèo. Bên cạnh đó, lý thuyết nhân học văn hóa tộc người được áp dụng để phân định ranh giới giữa bảo tồn tĩnh đối với các nghi lễ mang tính thiêng và bảo tồn động đối với các thực hành văn hóa có khả năng thương mại hóa.

Bốn khái niệm then chốt chi phối toàn bộ luận văn bao gồm: Du lịch cộng đồng, Bản sắc văn hóa tộc người, Sinh kế bền vững và Tính đặc thù của sản phẩm du lịch. Nghiên cứu bám sát các nguyên tắc tại Điều 6 và Điều 19 của Luật Du lịch năm 2017, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái vùng đệm và tôn trọng quyền lợi của cư dân bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp liên ngành Việt Nam học kết hợp Dân tộc học và Kinh tế du lịch nhằm đạt được cái nhìn đa chiều về đối tượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Phú Thọ, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cùng chiến lược phát triển kinh tế 3 khâu đột phá tại các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và XVII.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điền dã dân tộc học thực hiện trong giai đoạn 2010–2019. Tác giả lựa chọn cỡ mẫu định tính gồm 10 hộ gia đình người Dao Quần Chẹt tại xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Trong đó, mẫu được phân chia cân bằng thành 5 hộ đang trực tiếp kinh doanh du lịch homestay và 5 hộ thuần nông chưa tham gia dịch vụ du lịch. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đối sánh thực trạng thu nhập, năng lực đầu tư và các rào cản chuyển đổi sinh kế giữa hai nhóm đối tượng.

Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn chuyên gia được triển khai qua trao đổi sâu với lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Yên Lập và đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cơ sở để kiểm chứng tính khả thi của các cơ chế chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu xác định rõ cơ cấu phân bố tộc người: Người Dao Quần Chẹt chiếm đa số với khoảng 66,7% (2/3 dân số người Dao toàn tỉnh), cư trú tập trung tại 19 làng thuộc 8 xã huyện Yên Lập và 9 bản thuộc 7 xã huyện Thanh Sơn; trong khi người Dao Tiền chiếm khoảng 33,3% (1/3 dân số), phân bố tại 28 bản thuộc 12 xã vùng cao huyện Thanh Sơn và Tân Sơn. Cả hai nhóm đều duy trì tín ngưỡng thờ thủy tổ Bàn Vương với hệ thống 12 dòng họ lớn.

Thứ hai, luận văn chỉ ra kho tàng tài nguyên du lịch độc đáo gồm 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là Lễ cấp sắc và nghệ thuật Hát Páo Dung. Về di sản vật thể và nghề thủ công, kỹ thuật làm giấy bản truyền thống tại huyện Thanh Sơn sử dụng măng cây vầu cao từ 3m đến 4m kết hợp chất keo nhựa từ cây skêu ngâm ủ trong 1 đến 2 tháng tạo nên chất giấy xốp dai, không mùi axít. Bên cạnh đó, tri thức ẩm thực với rượu men lá chế biến từ thảo dược rừng ủ nếp từ 7 đến 10 ngày và phương pháp tắm lá thuốc gia truyền là những dịch vụ chăm sóc sức khỏe có tiềm năng sinh lời cao.

Thứ ba, khảo sát thực tế cho thấy 50% số hộ tại điểm nghiên cứu (5/10 hộ) chưa thể tiếp cận chuỗi giá trị du lịch do thiếu nguồn vốn ban đầu và kỹ năng phục vụ. Các điểm du lịch hiện hữu tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn hay Hang Lạng, Đầm Ao Châu chủ yếu khai thác tài nguyên tự nhiên thô, thiếu vắng sản phẩm văn hóa đặc thù có chiều sâu.

+-------------------------------------------------------------------------+
|        BẢNG MA TRẬN PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN VĂN HÓA NGƯỜI DAO PHÚ THỌ      |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+
| Nhóm di sản          | Hình thức thể hiện | Định hướng khai thác        |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+
| Nghi lễ tín ngưỡng   | Cấp sắc, Tết Nhảy  | Trình diễn mô phỏng/sân khấu|
| Tri thức dân gian    | Thuốc nam, tắm lá  | Trải nghiệm dịch vụ trị liệu|
| Nghề thủ công        | Giấy bản, dệt thổ cẩm| Tour trải nghiệm làng nghề |
| Ẩm thực truyền thống | Rượu men lá, cơm lam| Chuỗi cung ứng ẩm thực sạch |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm phát triển du lịch cộng đồng người Dao là sự thiếu liên kết giữa quy hoạch hạ tầng của nhà nước và năng lực nội tại của cộng đồng bản địa. Mặc dù GDP ngành du lịch Phú Thọ duy trì mức tăng trưởng 13,3% (đạt 354 tỷ đồng vào năm 2012) và giải quyết việc làm cho 15.500 lao động, nhưng dòng tiền chủ yếu tập trung tại khu vực trung tâm đồng bằng và các cơ sở lưu trú vùng ven. Vùng núi cao chiếm 79% diện tích tự nhiên của tỉnh vẫn là vùng trũng về đầu tư dịch vụ.

Dữ liệu khảo sát định tính cho thấy sự chênh lệch thu nhập giữa hộ tham gia du lịch và hộ thuần nông lên đến hơn 40%. Để dữ liệu này được trực quan hóa, các nghiên cứu tiếp theo có thể xây dựng biểu đồ so sánh cơ cấu thu nhập và bảng ma trận đánh giá năng lực cộng đồng. Về mặt học thuật, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn nguyên vẹn 100% các "lễ mật" như nghi thức tang ma hay bài cúng tổ tiên. Việc quay phim, chụp ảnh tùy tiện các lễ mật sẽ phá vỡ không gian thiêng liêng, do đó chỉ nên sân khấu hóa các hoạt động văn nghệ dân gian để phục vụ du khách một cách có trách nhiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng mô hình homestay chuẩn hóa gắn với trải nghiệm sinh thái tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn chủ trì phối hợp cùng các ngành liên quan hỗ trợ từ 3 đến 5 hộ gia đình người Dao mỗi năm trong giai đoạn 2020–2025, đầu tư hệ thống buồng phòng đạt chuẩn đón từ 100 đến 150 lượt khách/tuần, tích hợp dịch vụ ngâm chân thảo dược và tắm lá thuốc truyền thống.

Thứ hai, khôi phục và thương mại hóa chuỗi giá trị làng nghề làm giấy bản cổ truyền tại huyện Thanh Sơn. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ liên kết cùng hợp tác xã địa phương thiết kế tour du lịch trải nghiệm quy trình chế biến măng vầu và tráng giấy thủ công, đặt mục tiêu gia tăng 25% giá trị sản phẩm lưu niệm quà tặng bản địa đến năm 2023.

Thứ ba, đầu tư thiết chế nhà văn hóa cộng đồng và sân khấu trình diễn nghệ thuật ngoài trời theo mô hình điểm của xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ. Huyện Yên Lập và Thanh Sơn cần chủ động mở từ 2 đến 3 khóa đào tạo nghề du lịch hàng năm, tập huấn kỹ năng giao tiếp và vệ sinh an toàn thực phẩm cho tối thiểu 80% lao động trẻ tại các bản vùng cao.

Thứ tư, thiết lập quy chế quản lý điểm đến có trách nhiệm nhằm bảo vệ không gian văn hóa tộc người. Chính quyền cấp xã phối hợp chặt chẽ với các già làng, nghệ nhân kiểm soát chặt chẽ việc khai thác phong tục tập quán, bảo vệ 100% các nghi thức cúng lễ tâm linh gia đình khỏi tác động thương mại hóa quá đà.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành hoạch định chính sách du lịch, dân tộc tỉnh Phú Thọ. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng các đề án giảm nghèo, phân bổ nguồn vốn hỗ trợ thuộc chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi.

Thứ hai, các doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức tour và nhà đầu tư du lịch sinh thái văn hóa. Luận văn là bản đồ chỉ dẫn chi tiết về tuyến điểm, giúp doanh nghiệp xây dựng các sản phẩm du lịch homestay mới lạ kết nối giữa Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Hang Lạng và các làng bản người Dao Quần Chẹt tại Yên Lập.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Việt Nam học, Nhân học, Văn hóa học và Quản trị Du lịch. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điền dã liên ngành và cách tiếp cận phát triển sinh kế cộng đồng từ nguồn vốn văn hóa bản địa.

Thứ tư, các hợp tác xã dịch vụ du lịch và chính các hộ gia đình đồng bào người Dao tại địa phương. Nghiên cứu gợi mở phương thức tổ chức dịch vụ lưu trú, kỹ thuật khai thác tri thức cây thuốc nam và cách thức giữ gìn di sản của tổ tiên một cách bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cốt lõi giữa hai nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt tại Phú Thọ là gì?
Người Dao Quần Chẹt chiếm khoảng 66,7% dân số người Dao trong tỉnh, mặc quần thêu gấu bó sát và có lịch sử định cư sớm tại xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập. Người Dao Tiền chiếm khoảng 33,3%, sử dụng trang sức đồng xu bạc lớn trước ngực, mặc váy chàm và cư trú tập trung tại 28 bản vùng cao huyện Thanh Sơn, Tân Sơn.

Tại sao việc bảo tồn lễ mật của người Dao lại mang tính chất sống còn đối với du lịch bền vững?
Lễ mật gắn liền với thế giới tâm linh, kết nối thần linh Bàn Vương và tổ tiên trong các nghi thức tang ma, cúng dòng họ. Nếu thương mại hóa tùy tiện sẽ làm mất tính thiêng và phá vỡ cấu trúc văn hóa nguyên bản. Do đó, nguyên tắc bảo tồn nguyên vẹn 100% là yêu cầu bắt buộc để duy trì lòng tin cộng đồng.

Quy trình làm giấy bản truyền thống của người Dao Thanh Sơn có điểm gì thu hút du khách?
Quy trình sản xuất kéo dài qua nhiều công đoạn công phu, sử dụng nguyên liệu tự nhiên là măng cây vầu cao 3 đến 4 mét ngâm vôi từ 1 đến 2 tháng kết hợp dịch nhựa cây skêu rừng. Du khách được tự tay tham gia tráng giấy, ép khuôn và tạo ra các tác phẩm tranh thờ hoặc giấy lưu niệm độc bản.

Luật Du lịch 2017 tạo điều kiện thuận lợi nào cho mô hình du lịch cộng đồng tại Phú Thọ?
Điều 6 và Điều 19 của Luật Du lịch 2017 quy định rõ chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi du lịch cộng đồng, bảo đảm chia sẻ lợi ích công bằng cho người dân địa phương và phân bổ ngân sách cho công tác điều tra, bảo tồn tài nguyên du lịch văn hóa.

Hộ gia đình người Dao cần đáp ứng những tiêu chuẩn gì để vận hành mô hình homestay hiệu quả?
Các hộ gia đình cần bảo đảm điều kiện cơ sở lưu trú vệ sinh đạt chuẩn, gìn giữ kiến trúc nhà ở truyền thống, đồng thời trang bị kỹ năng chế biến ẩm thực sạch như xôi màu, thịt thính, rượu men lá ủ 7 đến 10 ngày và cung ứng dịch vụ tắm thuốc an toàn cho 100 đến 150 lượt khách/tuần.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện diện mạo văn hóa của hơn 13.000 người Dao tại Phú Thọ, làm rõ đặc trưng khu biệt của 2 nhóm Dao Quần Chẹt và Dao Tiền.
  • Nhận diện các tài nguyên du lịch mũi nhọn gồm 2 di sản phi vật thể quốc gia là Lễ cấp sắc, Hát Páo Dung cùng nghề làm giấy bản và ẩm thực men lá.
  • Chỉ ra thực trạng phát triển du lịch cộng đồng còn manh mún, khi 50% số hộ khảo sát chưa thể tiếp cận nguồn vốn và kỹ năng phục vụ du lịch.
  • Xác lập khung lý thuyết cân bằng giữa bảo tồn nguyên bản các nghi lễ thiêng và thương mại hóa có kiểm soát các sản phẩm trải nghiệm sinh thái.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đột phá gắn với chính sách hỗ trợ 3 đến 5 hộ làm homestay mỗi năm và đào tạo nghề cho 80% lao động trẻ.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho chuyên ngành Việt Nam học và công tác quản lý di sản tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Lộ trình triển khai khuyến nghị tập trung giai đoạn 2020–2025 tại 3 huyện trọng điểm Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập nhằm biến văn hóa bản địa thành đòn bẩy kinh tế bền vững. Các cấp chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay hợp tác ngay để hiện thực hóa mô hình du lịch cộng đồng giàu bản sắc trên quê hương Đất Tổ.