Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển loại hình du lịch văn hóa tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thanh Lương (mã sinh viên: A27638), chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch - Lữ hành, Trường Đại học Thăng Long, dưới sự hướng dẫn chuyên môn của ThS. Phạm Trần Thăng Long (bảo vệ tháng 6 năm 2019).
Về bối cảnh thực tiễn, thị xã Sơn Tây là đô thị cửa ngõ phía Tây Bắc thủ đô Hà Nội, sở hữu bề dày lịch sử và tài nguyên văn hóa đặc trưng của vùng đất "địa linh nhân kiệt", quê hương của hai vị vua Phùng Hưng và Ngô Quyền. Địa bàn lưu giữ nhiều tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu như Làng cổ Đường Lâm, Thành cổ Sơn Tây, Di tích Đền Và, Chùa Mía, đình làng Mông Phụ và làng nghề truyền thống Bánh tẻ Phú Nhi. Tuy nhiên, việc khai thác du lịch văn hóa tại địa phương còn tồn tại nhiều bất cập: hoạt động kinh doanh diễn ra manh mún, quy mô nhỏ lẻ, nguồn thu từ du lịch đạt thấp, hạ tầng dịch vụ bổ trợ thiếu thốn và chưa xây dựng được chuỗi liên kết hoàn chỉnh. Tác giả lựa chọn đề tài nhằm khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và năng lực cạnh tranh cho du lịch văn hóa Sơn Tây.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định rõ ràng theo cấu trúc văn bản:
- Mục đích nghiên cứu (Mục 2.1): Tìm hiểu, đánh giá hiện trạng của các điều kiện và thực tế phát triển loại hình du lịch văn hóa tại thị xã Sơn Tây; từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm thúc đẩy loại hình này phát triển bền vững và đạt tính cạnh tranh cao.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (Mục 2.2):
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch, du lịch văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tại thị xã Sơn Tây, chỉ ra những điểm thuận lợi và hạn chế trong công tác quản lý và khai thác.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển và khai thác du lịch văn hóa tại địa phương trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển và khai thác loại hình du lịch văn hóa trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính thị xã Sơn Tây (gồm 9 phường và 6 xã).
- Phạm vi thời gian của dữ liệu: Tập trung vào chuỗi dữ liệu thực tế về du lịch và kinh tế - xã hội của thị xã từ năm 2015 đến năm 2017 (kết hợp các mốc đối sánh từ năm 2012).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng học thuật dựa trên các định nghĩa chuyên ngành và văn bản pháp lý hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:
- Khung khái niệm: Tác giả tiếp cận khái niệm tài nguyên du lịch theo học giả Pirojnik (nhấn mạnh yếu tố tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử phục vụ phục hồi thể lực, trí tuệ), quan điểm của nhóm chuyên gia du lịch Trung Quốc và quy định tại Điều 15 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017. Khái niệm sản phẩm du lịch được xác định là sự kết hợp giữa dịch vụ vô hình và hàng hóa hữu hình nhằm đáp ứng sự hài lòng của du khách. Về phân loại, tác giả hệ thống hóa các loại hình du lịch theo nội dung hoạt động gồm: du lịch công vụ, du lịch thương mại, du lịch hội nghị, du lịch du ngoạn, du lịch thăm viếng và du lịch tôn giáo. Khái niệm du lịch văn hóa được viện dẫn chuẩn xác theo Khoản 18 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017: là hình thức du lịch dựa trên bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
- Khung điều kiện phát triển: Tác giả phân chia điều kiện phát triển du lịch thành hai nhóm:
- Điều kiện chung: Thời gian nhàn rỗi, nền kinh tế đất nước (hạ tầng kỹ thuật, giao thông, mức thu nhập), nguồn khách du lịch, tình hình chính trị và an toàn xã hội.
- Điều kiện riêng: Tài nguyên tự nhiên (địa hình, khí hậu, tài nguyên nước, động - thực vật), tài nguyên nhân văn (di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán), điều kiện sẵn sàng tiếp đón (tổ chức quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn đầu tư và môi trường văn hóa).
- Tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch văn hóa: Bao gồm phương pháp định lượng (số lượng khách quốc tế và nội địa, ngày lưu trú bình quân, mức chi tiêu, số lượng dịch vụ và cơ sở lưu trú, doanh thu) và phương pháp định tính (mức độ hài lòng của khách, tỷ lệ khách quay trở lại).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng hai phương pháp chính:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu: Thu thập, chọn lọc, xử lý và so sánh các nguồn thông tin thứ cấp nhằm đánh giá bức tranh tổng quan về du lịch Sơn Tây.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp tại các khu di tích, điểm tham quan và làng nghề trên địa bàn thị xã để thu thập dữ liệu xác thực về hạ tầng, dịch vụ và cảnh quan.
Nguồn dữ liệu của công trình được cung cấp và đối chiếu từ Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Sơn Tây, Chi cục Thống kê thị xã Sơn Tây, các báo cáo kinh tế của Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây và tác phẩm địa chí cổ Đại Việt địa dư toàn biên của danh sĩ Nguyễn Văn Siêu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa
Chương đầu tiên của khóa luận tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và du lịch văn hóa. Tác giả phân tích bản chất của tài nguyên du lịch văn hóa, khẳng định đây là cốt lõi để hình thành các điểm đến và sản phẩm du lịch có chiều sâu. Tác giả nhấn mạnh ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn của du lịch văn hóa: đóng vai trò ngành kinh tế kích thích lưu thông tiền tệ, thúc đẩy các ngành xây dựng, thương mại, tiểu thủ công nghiệp truyền thống phát triển, đồng thời là công cụ giáo dục truyền thống yêu nước, bảo tồn di sản dân tộc và nâng cao dân trí.
Phần trọng tâm của chương là việc xây dựng hệ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch văn hóa. Điểm đến du lịch có tính cạnh tranh cao phải đáp ứng đồng thời 5 nhóm nhân tố: độ hấp dẫn của tài nguyên (nguyên tắc "dễ dàng, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiện nghi"); hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ; khả năng tiếp cận thuận lợi về giao thông và thông tin liên lạc; mức độ truyền thông, xây dựng thương hiệu điểm đến; và chất lượng nguồn nhân lực (bao gồm lao động trực tiếp trong cơ sở lưu trú, lữ hành, lao động gián tiếp tại các điểm dịch vụ và thái độ ứng xử của cộng đồng dân cư địa phương).
Chương 2: Thực trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Chương 2 trình bày chi tiết bức tranh thực địa của du lịch Sơn Tây dựa trên lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và giá trị tài nguyên:
- Lịch sử và vị trí địa lý: Danh xưng Sơn Tây xuất hiện năm 1469 (Sơn Tây Thừa Tuyên đặt tại La Phẩm). Đến năm 1831, vua Minh Mạng thành lập tỉnh Sơn Tây. Năm 1884, thực dân Pháp lập thị xã Sơn Tây. Trải qua các lần điều chỉnh địa giới (sáp nhập tỉnh Hà Tây năm 1965, tỉnh Hà Sơn Bình năm 1975, sáp nhập Hà Nội năm 1978, chuyển về Hà Tây năm 1991, nâng cấp lên thành phố năm 2007, hợp nhất về thủ đô Hà Nội ngày 01/8/2008 và chuyển thành thị xã ngày 08/5/2009). Thị xã có diện tích tự nhiên nằm sát bờ Nam sông Hồng, dân số năm 2015 đạt 230,5 nghìn người, mật độ 2.031 người/km², gồm 9 phường và 6 xã.
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế: Địa hình đồng bằng xen bán sơn địa, có sông Tích chảy qua với chiều dài 91 km (trên tổng lưu vực 110 km), sở hữu 3 hồ tự nhiên lớn: hồ Đồng Mô (1.260 ha), hồ Suối Hai (671 ha), hồ Xuân Khanh (105 ha). Khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 22,5°C, lượng mưa trung bình 1.700 mm/năm, độ ẩm 84%. Hạ tầng giao thông gắn với Quốc lộ 32, Quốc lộ 21A và bến cảng sông Hồng. Tình hình an ninh chính trị ổn định do có nhiều học viện, trường đào tạo thuộc lực lượng quân đội, công an đóng quân.
- Giá trị tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể:
- Làng cổ Đường Lâm: Được cấp bằng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia ngày 19/5/2006. Vốn gồm 9 làng thuộc tổng Cam Giá Thịnh (5 làng liền kề gồm Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Cam Lâm). Nơi đây lưu giữ 956 ngôi nhà cổ xây bằng đá ong đặc trưng, nhiều ngôi nhà có niên đại gần 500 năm.
- Thành cổ Sơn Tây: Xây dựng năm Minh Mạng thứ 3 (1822) với diện tích 16 ha, là công trình phòng thủ quân sự xây bằng đá ong duy nhất tại Việt Nam, được Bộ Văn hóa công nhận di tích năm 1994.
- Khu di tích Đền Và: Tọa lạc tại thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thờ Tản Viên Sơn Thánh (xếp hạng di tích quốc gia năm 1964). Đền có kiến trúc tiền tế và hậu cung hình chữ "Công", quần thể lưu giữ 85 cây lim cổ thụ cùng 4 cây cổ thụ khác được công nhận là cây di sản. Lễ hội Đền Và diễn ra chính hội vào rằm tháng Giêng (đại lễ 3 năm/lần vào các năm Tý - Mão - Ngọ - Dậu có tục rước nước qua sông Hồng của làng Di Bình với sự phối hợp của 8 làng); ngoài ra có lễ hội đả ngư rằm tháng 9 âm lịch trên sông Tích, tuyển chọn đủ 99 con cá trắng to dâng tế Thánh.
- Khu di tích Chùa Mía: Tôn tạo năm 1632 nhờ công đức của Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Dong (Bà Chúa Mía), lưu giữ số lượng tượng Phật đặc sắc lên tới 287 pho tượng (174 tượng đất nung sơn son thếp vàng, 107 tượng mộc, 6 tượng đồng).
- Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô): Quy mô 1.544 ha với 7 phân khu chức năng, đón trung bình 8.603 lượt khách/tháng. Giá vé tham quan quy định: 30.000 đồng/lượt người lớn, 10.000 đồng/lượt học sinh - sinh viên, miễn phí cho trẻ em dưới 1,2 m.
- Làng nghề Bánh tẻ Phú Nhi: Được công nhận làng nghề năm 2007 và nhận Bằng bảo hộ thương hiệu của Cục Sở hữu trí tuệ năm 2010. Khu vực Phú Nhi và Hồng Hậu có 32 hộ duy trì nghề, cung cấp từ 1.300 đến 2.000 chiếc bánh/ngày.
Về tình hình khai thác thực tế, văn bản chỉ rõ các điểm nghẽn nghiêm trọng: phần lớn điểm di tích không thu vé tham quan; du khách chủ yếu đi về trong ngày, rất ít khi lưu trú qua đêm; hệ thống nhà hàng quy mô nhỏ, dịch vụ giải trí về đêm nghèo nàn; kinh nghiệm đón tiếp của người dân và ban quản lý còn nặng tính tự phát; tính mùa vụ diễn ra gay gắt (khách chỉ đổ về dịp lễ hội đầu năm âm lịch).
Số liệu thống kê lượng khách và cơ cấu lao động tại thị xã Sơn Tây được tổng hợp trong hai bảng dưới đây:
Bảng 1: Lượng khách du lịch đến một số điểm di tích tại thị xã Sơn Tây qua các năm
| STT |
Tên điểm di tích / khu du lịch |
Năm 2012 (lượt khách) |
Năm 2015 (lượt khách) |
Năm 2017 (lượt khách) |
Ghi chú dữ liệu theo văn bản |
| 1 |
Làng cổ Đường Lâm |
114.000 |
- |
- |
Lượng khách ổn định nhất trong năm |
| 2 |
Thành cổ Sơn Tây |
- |
109.540 |
- |
Phục vụ tham quan dã ngoại, triển lãm |
| 3 |
Làng Văn hóa - Du lịch các DT VN |
- |
- |
- |
Đón trung bình 8.603 lượt khách/tháng |
| 4 |
Đền Và |
- |
- |
219.582 |
Quá tải tập trung vào dịp lễ hội tháng Giêng |
(Nguồn: Trích dẫn Bảng 2.1 của khóa luận, dữ liệu từ Phòng Văn hóa – Thông tin thị xã Sơn Tây)
Bảng 2: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn thị xã Sơn Tây
| Giai đoạn / Chỉ số |
Lao động Nông - Lâm - Thủy sản và Công nghiệp (%) |
Lao động Du lịch - Dịch vụ - Thương mại (%) |
Tổng số lao động toàn thị xã (người) |
Đặc điểm nguồn nhân lực |
| Giai đoạn 2012 - 2013 |
88,87% |
11,13% |
145.60x |
Cơ cấu kinh tế thuần nông - công nghiệp |
| Giai đoạn 2015 - 2017 |
Chiều hướng giảm |
21,30% |
179.668 (năm 2017) |
Chiếm gần 1/4 tổng lực lượng lao động |
| Đội ngũ quản lý nhà nước (Phòng VH-TT) |
- |
- |
11 cán bộ (3 quản lý, 8 chuyên viên) |
4 Thạc sĩ, 4 Cử nhân ĐH du lịch/văn hóa, 0 Cao đẳng |
(Nguồn: Trích dẫn Bảng 2.2 và số liệu thống kê tại trang 41-42 của khóa luận)
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển và khai thác loại hình du lịch văn hóa tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Dựa trên các hạn chế thực tế, tác giả đề xuất hệ thống nhóm giải pháp phát triển đồng bộ (được xác định cụ thể trong kết cấu mục lục của khóa luận):
- Thu hút sự tham gia tích cực và đóng góp của cộng đồng cư dân địa phương vào chuỗi cung ứng du lịch.
- Định hướng đưa du lịch văn hóa phát triển nhanh và bền vững, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của toàn thị xã.
- Nâng cao trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn của người dân địa phương về kỹ năng làm du lịch và bảo vệ di sản.
- Phát triển du lịch gắn liền với đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của vùng đất xứ Đoài.
- Quy hoạch, bảo tồn và phát triển giá trị các tài nguyên du lịch văn hóa vật thể, phi vật thể.
- Mở rộng cơ chế thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách cho hạ tầng du lịch.
- Đa dạng hóa các gói sản phẩm du lịch văn hóa, tránh sự đơn điệu.
- Kiện toàn và chuyên nghiệp hóa công tác tổ chức, quản lý nhà nước tại các điểm di tích.
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, quảng bá hình ảnh điểm đến trên các phương tiện truyền thông và hội chợ thương mại để mở rộng thị trường khách.
- Cải thiện, nâng cấp đồng bộ mạng lưới cơ sở hạ tầng, giao thông và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.
- Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề và nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực du lịch.
- Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ với các công ty lữ hành tại Hà Nội và các tỉnh lân cận nhằm xây dựng các tuyến tour khép kín.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả nghiên cứu cụ thể, phản ánh đúng thực trạng du lịch địa phương:
- Kết quả thực nghiệm và số liệu: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn bộ các tài nguyên văn hóa nòng cốt của Sơn Tây với các dữ liệu xác thực: quần thể 956 ngôi nhà cổ tại Làng cổ Đường Lâm; Thành cổ 16 ha xây bằng đá ong năm 1822; Chùa Mía với 287 pho tượng Phật quý; Đền Và với 85 cây lim di sản; Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam đón bình quân 8.603 lượt khách/tháng; làng nghề Phú Nhi duy trì 32 hộ sản xuất bánh tẻ. Nghiên cứu cũng chỉ rõ độ tuổi trung bình của lực lượng lao động địa phương rất trẻ (23,7 tuổi năm 2017) và tỷ trọng lao động thương mại - dịch vụ - du lịch đã có bước chuyển biến từ 11,13% (2012) lên 21,30% (2017).
- Giải pháp đề xuất: Công trình đưa ra 12 nhóm định hướng giải pháp từ góc độ quản trị dịch vụ lữ hành, chú trọng vào việc khắc phục tính manh mún, giải quyết tình trạng thiếu hụt dịch vụ bổ trợ, nâng cao kỹ năng ứng xử đón tiếp du khách và liên kết lữ hành nhằm kéo dài thời gian lưu trú của khách.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên ngành quản trị du lịch tiếp cận trực diện địa bàn thị xã Sơn Tây dưới góc độ đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến. Tác giả đã tổng hợp được bức tranh toàn diện về các điểm nghẽn của một đô thị giàu tài nguyên văn hóa nhưng phát triển dịch vụ chậm, cung cấp tư liệu khảo sát thực tế có giá trị cho chính quyền cơ sở và các đơn vị lữ hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Hạn chế về dữ liệu: Chuỗi số liệu thống kê về lượng khách du lịch tại Bảng 2.1 còn thiếu tính liên tục qua các năm đối với từng điểm di tích (chỉ có số liệu đơn lẻ cho từng điểm ở từng năm khác nhau như Đường Lâm năm 2012, Thành cổ năm 2015, Đền Và năm 2017). Khóa luận chưa triển khai khảo sát định lượng chuyên sâu bằng bảng hỏi (survey) đối với khách du lịch để thu thập số liệu chính xác về cơ cấu chi tiêu trung bình, mức độ thỏa dụng và tỷ lệ quay lại.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Trên cơ sở dữ liệu của đề tài, các nghiên cứu tiếp sau có thể mở rộng khảo sát điều tra xã hội học với mẫu du khách cụ thể; phân tích sâu mô hình kinh tế chuỗi giá trị du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm; hoặc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm tour đêm, liên kết tuyến du lịch Sơn Tây - Ba Vì - Phúc Thọ nhằm khai thác khả năng chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của du khách.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với sinh viên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch - Lữ hành: Là tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp khảo sát tài nguyên điểm đến, cách thức vận dụng Luật Du lịch năm 2017 vào đánh giá điều kiện khai thác du lịch văn hóa tại một địa bàn cấp quận/huyện cụ thể.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Cung cấp tài liệu đánh giá hiện trạng cho Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Sơn Tây và Ban quản lý di tích Làng cổ Đường Lâm trong việc nhìn nhận các điểm yếu về kỹ năng phục vụ, cơ sở lưu trú và liên kết thị trường.
- Đối với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành: Cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm tài nguyên, tính chất lễ hội (lễ hội rằm tháng Giêng, lễ hội Đả ngư Đền Và), giá vé và quy mô các điểm tham quan để làm căn cứ xây dựng chương trình tour dã ngoại, văn hóa, học đường phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng căn cứ pháp lý và định nghĩa nào để xác định loại hình du lịch văn hóa?
Tác giả căn cứ vào Khoản 18 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, quy định: Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa trên bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
2. Điểm đặc sắc nhất về kiến trúc và tài nguyên của Làng cổ Đường Lâm được tác giả ghi nhận là gì?
Làng cổ Đường Lâm là làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được cấp bằng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia (ngày 19/5/2006), sở hữu nét kiến trúc thuần túy xây bằng đá ong với 956 ngôi nhà cổ (nhiều ngôi nhà có niên đại gần 500 năm), gìn giữ gần như nguyên vẹn nếp sinh hoạt văn hóa làng quê truyền thống đồng bằng Bắc Bộ.
3. Tại sao Thành cổ Sơn Tây được xem là tài nguyên văn hóa quân sự độc nhất vô nhị trong khóa luận?
Thành cổ Sơn Tây được xây dựng năm 1822 dưới thời vua Minh Mạng với diện tích 16 ha, từng là thủ phủ vùng Tam tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang) và là chứng tích lịch sử phòng thủ quân sự duy nhất tại Việt Nam được xây dựng hoàn toàn bằng vật liệu đá ong.
4. Khóa luận chỉ ra nguyên nhân chủ yếu khiến doanh thu từ du lịch văn hóa tại Sơn Tây đạt mức thấp là gì?
Nguyên nhân cốt lõi là hầu hết các điểm di tích văn hóa nổi tiếng (Thành cổ, Đền Và, Chùa Mía) không thu phí vé tham quan; đồng thời Sơn Tây chủ yếu đóng vai trò là trạm dừng chân ngắn trong hành trình, khách tham quan chủ yếu đi trong ngày mà không lưu trú qua đêm, dẫn đến không khai thác được mức chi tiêu cho dịch vụ lưu trú, ẩm thực và mua sắm bổ trợ.
5. Cơ cấu nhân lực của cơ quan quản lý du lịch cao nhất tại thị xã Sơn Tây vào thời điểm nghiên cứu gồm những ai?
Cơ quan quản lý cao nhất là Phòng Văn hóa và Thông tin thị xã Sơn Tây, gồm 11 cán bộ (3 cán bộ quản lý và 8 chuyên viên). Về trình độ học vấn, có 4 cán bộ đạt trình độ Thạc sĩ, 4 cán bộ tốt nghiệp Đại học chuyên ngành văn hóa/du lịch, không có cán bộ trình độ Cao đẳng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thanh Lương đã phác thảo một bức tranh toàn diện và trung thực về hiện trạng phát triển loại hình du lịch văn hóa tại thị xã Sơn Tây thời điểm năm 2019. Tác giả đã làm rõ nghịch lý giữa tiềm năng tài nguyên di sản đồ sộ (Đường Lâm, Đền Và, Chùa Mía, Thành cổ) với thực trạng khai thác manh mún, doanh thu khiêm tốn và cơ sở hạ tầng dịch vụ còn nhiều hạn chế. Công trình là nguồn tư liệu thực địa có giá trị thực tiễn cho sinh viên chuyên ngành lữ hành và các nhà quản lý du lịch địa phương trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp phát triển du lịch bền vững.