Tổng quan nghiên cứu

Thanh Hóa sở hữu đường bờ biển dài 102 km trải dài qua 6 huyện và thị xã ven biển bao gồm Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và thị xã Sầm Sơn, nằm trong tổng diện tích tự nhiên 11.106,09 km2 của tỉnh. Đây là vùng đất hội tụ kho tàng tài nguyên du lịch nhân văn phong phú gắn liền với không gian văn hóa biển đảo đặc trưng. Trong giai đoạn 2000 - 2007, ngành du lịch Thanh Hóa đã đạt mức tăng trưởng vượt bậc: lượng khách tăng từ 482.257 lượt khách năm 2000 lên 1,65 triệu lượt khách năm 2007; doanh thu tương ứng tăng từ 84,5 tỷ đồng lên 523,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, hoạt động khai thác thực tế bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng khi khoảng 60% tổng lượng khách chỉ tập trung vào loại hình nghỉ mát tắm biển mùa hè, trong khi tiềm năng du lịch văn hóa di sản chỉ chiếm khoảng 40% và chưa được định hình thành các sản phẩm mũi nhọn mang lại giá trị gia tăng cao.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là việc khai thác tài nguyên văn hóa ven biển còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch chiến lược dài hạn và chưa tạo dựng được chuỗi giá trị liên kết đồng bộ giữa các địa phương. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể vùng duyên hải xứ Thanh, đánh giá khách quan thực trạng kinh doanh giai đoạn 2004 đến tháng 7 năm 2008, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm phát triển sản phẩm du lịch văn hóa biển giai đoạn 2008 - 2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ định lượng giúp nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch trong tổng sản phẩm quốc nội của tỉnh từ mức 2,09% năm 2005 lên các ngưỡng cao hơn, đồng thời kéo dài thời gian lưu trú trung bình của du khách và giải quyết bài toán mùa vụ du lịch biển miền Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tài nguyên du lịch nhân văn và lý thuyết cấu trúc sản phẩm du lịch trong kinh tế học hiện đại. Theo Luật Du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm hệ thống di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, lễ hội truyền thống, văn nghệ dân gian, phong tục tập quán và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể có khả năng thu hút du khách nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng nhằm phân tích vai trò của cư dân bản địa trong việc bảo tồn và thương mại hóa các giá trị văn hóa biển.

Các khái niệm chính được làm rõ trong công trình gồm:

  • Không gian du lịch văn hóa vùng ven biển: Dải lãnh thổ duyên hải gắn kết giữa địa mạo tự nhiên ven bờ với các thiết chế văn hóa cư dân làng chài.
  • Sản phẩm du lịch văn hóa: Tập hợp các dịch vụ lữ hành, lưu trú, vận chuyển, ăn uống và hướng dẫn được xây dựng trên nền tảng khai thác các yếu tố văn hóa chủ đạo nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm của du khách.
  • Du lịch làng nghề truyền thống: Loại hình du lịch sinh thái nhân văn diễn ra tại các làng nghề lưu giữ trên 30% tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và trên 50% doanh thu từ nghề thủ công cổ truyền.
  • Di sản văn hóa duyên hải: Hệ thống thiết chế tín ngưỡng thờ thần bảo trợ nghề biển như tục thờ Cá Ông, Tứ vị Thánh nương và các công trình kiến trúc đền miếu gắn liền lịch sử dựng nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập trong mốc thời gian từ năm 2004 đến tháng 7 năm 2008. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, hệ thống văn bản quy hoạch kinh tế - xã hội của 6 huyện, thị xã ven biển và niên giám thống kê ngành du lịch.

Về dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa thông qua phương pháp điền dã kết hợp phỏng vấn sâu và phát phiếu điều tra. Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm bao gồm 180 phiếu khảo sát du khách nội địa và quốc tế tại các điểm đến trọng điểm như Sầm Sơn, Nga Sơn, Ngư Lộc, Tĩnh Gia, cùng 25 cuộc phỏng vấn chuyên sâu dành cho cán bộ quản lý di tích, lãnh đạo 27 doanh nghiệp lữ hành và các nghệ nhân làng nghề. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng thụ hưởng và cung ứng dịch vụ. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp đối chiếu và ma trận điểm mạnh - điểm yếu là nhằm lượng hóa chính xác mối tương quan giữa tốc độ đầu tư cơ sở hạ tầng với hiệu quả kinh tế du lịch, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng doanh thu và lượng khách du lịch toàn tỉnh đạt mức ấn tượng nhưng cơ cấu sản phẩm còn mất cân đối nghiêm trọng. Giai đoạn 2000 - 2005, lượng khách du lịch tăng 1,95 lần từ 482.257 lượt lên 940.041 lượt; doanh thu tăng 2,19 lần từ 84,5 tỷ đồng lên 185 tỷ đồng. Đến năm 2007, toàn ngành đón 1,65 triệu lượt khách với doanh thu 523,5 tỷ đồng, tăng 36,7% so với năm 2006. Riêng 7 tháng đầu năm 2008, doanh thu đạt 552 tỷ đồng với 1.485.500 lượt khách (trong đó có 12.864 lượt khách quốc tế). Dù vậy, thị phần du lịch thuần túy tắm biển chiếm tới 60%, trong khi thị phần khách tham quan di tích lịch sử và văn hóa chỉ chiếm khoảng 40%.

Thứ hai, hạ tầng cơ sở lưu trú gia tăng nhanh về số lượng nhưng phân hóa rõ rệt về chất lượng tiêu chuẩn. Tổng số cơ sở lưu trú tăng từ 230 cơ sở với 4.028 phòng năm 2000 lên 449 cơ sở với 8.447 phòng vào tháng 7 năm 2008 (tăng 95,2% số cơ sở và 109,7% số phòng). Tuy nhiên, toàn tỉnh chỉ có 1 khách sạn 4 sao (80 phòng), 7 khách sạn 3 sao (278 phòng) và 31 khách sạn 1 - 2 sao (1.043 phòng). Khối cơ sở lưu trú đạt chuẩn kinh doanh là 194 đơn vị (6.037 phòng), trong khi vẫn tồn tại 216 cơ sở chưa đạt tiêu chuẩn kinh doanh (1.197 phòng, chiếm 14,2% tổng số phòng), dẫn đến việc hạn chế khả năng chi tiêu và rút ngắn ngày lưu trú bình quân của du khách.

Thứ ba, nguồn tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng trù phú nhưng chưa được liên kết thương mại hóa bài bản. Vùng ven biển sở hữu các quần thể di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Bà Triều (Sầm Sơn), đền Mai An Tiêm, chiến khu Ba Đình (Nga Sơn), di tích Diêm Phố (Hậu Lộc), đền Quang Trung, đền Lạch Bạng (Tĩnh Gia). Bên cạnh đó là các lễ hội đặc sắc như lễ hội Cầu Ngư Ngư Lộc (21 - 24/2 âm lịch), lễ hội Bánh chưng - Bánh giầy Sầm Sơn (12/5 âm lịch), cùng các làng nghề danh tiếng như chiếu cói Nga Sơn với vùng nguyên liệu 4.000 ha tại 8 xã, nước mắm Khúc Phụ, nước mắm Ba Làng, dệt săm xóc. Mặc dù số doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn đã tăng từ 2 đơn vị năm 2000 lên 27 đơn vị năm 2007 (phục vụ gần 23.000 lượt khách, doanh thu 13,5 tỷ đồng), song hầu hết các đơn vị chỉ khai thác các tour du lịch đơn lẻ, thiếu các sản phẩm du lịch văn hóa chuyên sâu định kỳ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tích cho thấy nguyên nhân chủ yếu của việc chậm đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa xuất phát từ tư duy kinh doanh mùa vụ ngắn hạn. Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng tuy có bước phát triển với hơn 7.000 km đường bộ toàn tỉnh nhưng tỷ lệ nhựa hóa và bê tông hóa mới đạt khoảng 25%, gây cản trở việc vận chuyển khách theo tuyến liên huyện. Thêm vào đó, việc quảng bá xúc tiến tài nguyên văn hóa còn phân tán, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý di tích và các hãng lữ hành. So với các trung tâm du lịch duyên hải miền Trung, du lịch ven biển Thanh Hóa chưa định vị được thương hiệu di sản rõ nét mặc dù có bề dày lịch sử hàng nghìn năm từ nền văn hóa Đa Bút, Hoa Lộc đến Đông Sơn rực rỡ.

Các phát hiện thực nghiệm của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tương quan tăng trưởng giữa lượng khách và doanh thu du lịch giai đoạn 2000 - 2008, kết hợp biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu phân hạng chất lượng của 8.447 phòng lưu trú tính đến tháng 7 năm 2008. Bảng ma trận đánh giá tiềm năng và hiện trạng khai thác tài nguyên văn hóa tại 6 địa phương duyên hải sẽ cung cấp bức tranh tổng thể về mức độ sẵn sàng đón khách của từng cụm di tích.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch không gian và đa dạng hóa các tuyến sản phẩm du lịch văn hóa liên huyện. Chủ thể thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 6 huyện, thị xã ven biển. Timeline thực hiện từ năm 2008 đến năm 2012. Mục tiêu cụ thể là xây dựng ít nhất 5 tour chuyên đề văn hóa lịch sử tâm linh kết nối Sầm Sơn - Hậu Lộc - Nga Sơn - Tĩnh Gia, nâng tỷ trọng du khách tham gia các tour văn hóa từ 40% lên 55% vào năm 2012.

Thứ hai, nâng cấp kết cấu hạ tầng kỹ thuật và chuẩn hóa hệ thống cơ sở lưu trú du lịch. Chủ thể triển khai là Sở Giao thông Vận tải, chính quyền các địa phương cùng các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú tư nhân. Timeline từ năm 2009 đến năm 2015. Mục tiêu đề ra là nâng tỷ lệ nhựa hóa các trục đường bộ ven biển nối Quốc lộ 1A đến các điểm di tích lên trên 50%, đồng thời giảm tỷ lệ phòng nghỉ chưa đạt chuẩn xuống dưới 5%, gia tăng số lượng phòng đạt tiêu chuẩn xếp hạng 3 - 4 sao lên trên 2.000 phòng nhằm kéo dài thời gian lưu trú bình quân từ 1,5 ngày lên 2,8 ngày/khách.

Thứ ba, bảo tồn và thương mại hóa các làng nghề thủ công truyền thống gắn với chuỗi cung ứng du lịch. Chủ thể là Ủy ban nhân dân các huyện Nga Sơn, Quảng Xương, Hậu Lộc, Tĩnh Gia cùng các Hợp tác xã nghề thủ công. Timeline từ năm 2008 đến năm 2013. Mục tiêu là quy hoạch và đưa 100% các điểm sản xuất tiêu biểu (chiếu cói Nga Sơn quy mô 4.000 ha, nước mắm Ba Làng, mây tre đan Quảng Phong, thủ công mỹ nghệ ốc trai Sầm Sơn) vào bản đồ tour du lịch trải nghiệm, giải quyết việc làm cho hơn 4.200 lao động nông thôn và đưa mức doanh thu hàng lưu niệm chiếm 15% tổng chi tiêu của du khách.

Thứ tư, đổi mới công tác xúc tiến quảng bá và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành. Chủ thể là Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phối hợp với 27 doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn và các đơn vị lữ hành tại Hà Nội. Timeline từ năm 2008 đến năm 2015. Mục tiêu đưa tổng doanh thu dịch vụ lữ hành từ 13,5 tỷ đồng năm 2007 lên vượt mức 50 tỷ đồng năm 2015, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn xã hội hóa tham gia vào 24 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký trên 3.000 tỷ đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và chính quyền địa phương (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Ủy ban nhân dân các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và thị xã Sầm Sơn). Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2004 - 2008 làm căn cứ hoạch định quy hoạch phát triển không gian du lịch và điều chỉnh chính sách thu hút nguồn vốn hơn 3.000 tỷ đồng từ các dự án đầu tư.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, lưu trú và dịch vụ du lịch tại Thanh Hóa và Hà Nội. Doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin chi tiết về 12 di tích tiêu biểu, 5 lễ hội lớn và các làng nghề để thiết kế các gói tour chuyên đề khác biệt, khắc phục tính mùa vụ và nâng cao doanh thu dịch vụ ngoài các tháng cao điểm hè.

Nhóm 3: Các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch học, Văn hóa học, Địa lý kinh tế. Công trình là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích về phương pháp tiếp cận tài nguyên nhân văn vùng biển, khung lý thuyết phân tích sản phẩm du lịch và chuỗi dữ liệu thực nghiệm khảo sát 180 du khách cùng 25 chuyên gia.

Nhóm 4: Ban quản lý di tích, nghệ nhân và cộng đồng cư dân tại các làng nghề truyền thống duyên hải (xã Ngư Lộc, vùng cói Nga Sơn, làng nghề Ba Làng). Nghiên cứu giúp cộng đồng nắm bắt quy trình chuyển hóa các giá trị văn hóa bản địa thành sản phẩm du lịch sinh thái nhân văn, góp phần tạo việc làm ổn định cho hơn 4.275 lao động địa phương và gia tăng thu nhập bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vùng ven biển Thanh Hóa có những nét đặc sắc nào?

Khu vực ven biển dài 102 km sở hữu hệ thống di tích tâm linh dày đặc như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Mai An Tiêm, quần thể kiến trúc Diêm Phố cùng các lễ hội biển quy mô lớn như lễ hội Cầu Ngư (21 - 24/2 âm lịch), hội Bánh chưng - Bánh giầy (12/5 âm lịch). Sự đan xen giữa huyền tích lịch sử và văn hóa làng chài tạo nên bản sắc độc đáo hiếm có.

Đâu là rào cản lớn nhất trong việc khai thác du lịch văn hóa ven biển Thanh Hóa giai đoạn nghiên cứu?

Rào cản then chốt là tính mùa vụ quá nặng nề khi khoảng 60% du khách chỉ tập trung tắm biển trong mùa hè, trong khi du lịch văn hóa chỉ chiếm 40%. Cơ sở lưu trú quy mô nhỏ với 216 trên tổng số 449 cơ sở chưa đạt chuẩn (tháng 7/2008) và tỷ lệ nhựa hóa đường bộ chỉ đạt 25% khiến việc liên kết tour tuyến liên huyện bị hạn chế.

Luận văn đã đề xuất những dòng sản phẩm du lịch văn hóa trọng điểm nào?

Tác giả đề xuất 4 nhóm sản phẩm chính: tour du lịch tâm linh di tích lịch sử ven biển (Sầm Sơn - Hậu Lộc - Nga Sơn), tour khám phá lễ hội truyền thống miền biển (Cầu Ngư, Mai An Tiêm), tour trải nghiệm làng nghề thủ công (chiếu cói Nga Sơn diện tích 4.000 ha, nước mắm Ba Làng) và sản phẩm văn hóa giải trí hiện đại tại Sầm Sơn.

Doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò như thế nào trong việc phát triển du lịch văn hóa địa phương?

Doanh nghiệp lữ hành giữ vai trò cầu nối biến tài nguyên văn hóa thành sản phẩm thương mại. Giai đoạn 2000 - 2007, số doanh nghiệp lữ hành tăng từ 2 lên 27 đơn vị, đạt doanh thu 13,5 tỷ đồng. Các hãng lữ hành trực tiếp xây dựng tour liên kết di sản, điều tiết dòng khách và kéo dài thời gian lưu trú bình quân cho du khách.

Việc phát triển du lịch làng nghề ven biển mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội ra sao?

Du lịch làng nghề tại Nga Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và đa dạng hóa sinh kế. Điển hình tại Hậu Lộc, các ngành nghề ven biển đã giải quyết việc làm cho 4.275 lao động với thu nhập bình quân hơn 9 triệu đồng/người/năm, mở ra hướng đi kết hợp sản xuất với du lịch trải nghiệm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể dọc 102 km đường bờ biển qua 6 huyện, thị xã ven biển Thanh Hóa.
  • Đánh giá thực trạng tăng trưởng du lịch giai đoạn 2004 đến tháng 7 năm 2008, chỉ rõ mức tăng doanh thu từ 84,5 tỷ đồng (2000) lên 523,5 tỷ đồng (2007) và 552 tỷ đồng (7 tháng năm 2008).
  • Nhận diện các điểm nghẽn cốt lõi về tính mùa vụ cao (60% khách tắm biển), hạ tầng giao thông mới đạt 25% nhựa hóa và chất lượng lưu trú chưa đồng đều với 216 cơ sở chưa đạt chuẩn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về quy hoạch không gian tour tuyến, chuẩn hóa hạ tầng lưu trú, thương mại hóa làng nghề và nâng cao năng lực 27 doanh nghiệp lữ hành.
  • Đóng góp nguồn luận cứ khoa học quan trọng cho chiến lược phát triển Thanh Hóa trở thành trọng điểm du lịch quốc gia giai đoạn 2008 - 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo 2008 - 2015, chính quyền tỉnh và các địa phương cần đẩy nhanh tiến độ triển khai 24 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn trên 3.000 tỷ đồng, đồng thời tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa cộng đồng cư dân và doanh nghiệp lữ hành. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu hãy chủ động ứng dụng kết quả khoa học từ luận văn này để chuyển hóa tiềm năng văn hóa biển đảo xứ Thanh thành động lực phát triển kinh tế bền vững.