Tổng quan nghiên cứu

Chăn nuôi lợn giữ vị trí then chốt trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam với tổng đàn đạt khoảng 29,08 triệu con vào tháng 10 năm 2016, tăng trưởng 4,77% so với cùng kỳ năm 2015. Mặc dù Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng thịt lợn, giá trị xuất khẩu năm 2015 chỉ đạt 55,4 triệu USD, xếp vị trí thứ 25 toàn cầu. Nhằm thực hiện mục tiêu gia tăng tỷ lệ cơ cấu đàn lợn ngoại 8% mỗi năm đến năm 2020 và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, việc nhập khẩu và thích nghi hóa các dòng giống cao sản từ các quốc gia tiên tiến là nhiệm vụ cấp thiết. Trong bối cảnh đó, Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương đã nhập khẩu đàn lợn thuần Landrace và Yorkshire từ cơ sở Cedar Ridge Genetics của Hoa Kỳ để làm tươi máu và nâng cấp đàn giống hạt nhân quốc gia.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện năng suất sinh sản của lợn nái thế hệ xuất phát (thế hệ 0), khả năng sinh trưởng của đàn lợn con thế hệ 1 và phẩm chất tinh dịch của đàn lợn đực giống qua hai thế hệ. Toàn bộ nghiên cứu được tiến hành tại Trạm Nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Kỳ Sơn, thuộc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình trong khung thời gian từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 3 năm 2017.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi lần đầu tiên cung cấp hệ thống số liệu chuẩn xác về khả năng thích ứng của hai giống lợn ngoại nguồn gốc Mỹ tại vùng sinh thái miền Bắc. Kết quả chỉ ra đàn nái Landrace đạt năng suất sinh sản nổi trội với 13,39 con sơ sinh sống trên mỗi ổ và lợn Yorkshire thế hệ 1 đạt tốc độ tăng khối lượng 884,50 g/ngày, tạo tiền đề vững chắc cho công tác chọn lọc và nhân rộng giống hạt nhân chất lượng cao trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết di truyền số lượng và chọn giống gia súc hiện đại. Theo các công bố kinh điển trong di truyền học vật nuôi, các tính trạng sinh sản ở lợn nái có hệ số di truyền thấp, dao động từ 0,03 đến 0,12 đối với số con sơ sinh sống trên ổ và số con cai sữa trên ổ, trong khi tuổi đẻ lứa đầu có hệ số di truyền khoảng 0,27. Do ảnh hưởng mạnh mẽ từ điều kiện ngoại cảnh và chăm sóc nuôi dưỡng, việc đánh giá khả năng sinh sản đòi hỏi phải kiểm soát nghiêm ngặt các yếu tố tiểu khí hậu, dinh dưỡng và kỹ thuật phối giống. Ngược lại, các tính trạng sinh trưởng như tốc độ tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn có hệ số di truyền ở mức trung bình khoảng 0,31, đồng thời tồn tại mối tương quan di truyền âm rất chặt chẽ giữa tăng trọng ngày và tiêu tốn thức ăn (hệ số tương quan r dao động từ -0,51 đến -0,99).

Khung lý thuyết đánh giá phẩm chất tinh dịch lợn đực giống dựa trên mô hình sinh lý sinh dục đực với phức hợp 5 chỉ tiêu tiêu chuẩn: thể tích tinh dịch (V), hoạt lực tinh trùng tiến thẳng (A), nồng độ tinh trùng (C), tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) và tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh (chỉ số VAC). Trong thụ tinh nhân tạo hiện đại, chỉ tiêu VAC là thước đo quyết định khả năng pha loãng tinh dịch, với yêu cầu chuẩn hóa từ 2 đến 3 tỷ tinh trùng tiến thẳng cho mỗi liều tinh thương phẩm từ 90 đến 100 ml. Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt đề tài bao gồm: kiểm tra năng suất cá thể giai đoạn 30 đến 100 kg, độ dày mỡ lưng siêu âm (BF), tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa và khối lượng toàn ổ tại thời điểm 22 ngày tuổi.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ quy trình theo dõi liên tục trên các nhóm vật liệu nghiên cứu chuẩn hóa:

  • Đánh giá năng suất sinh sản trên 71 lợn nái thế hệ xuất phát (36 nái Landrace theo dõi 72 lứa đẻ và 35 nái Yorkshire theo dõi 70 lứa đẻ).
  • Đánh giá khả năng sinh trưởng trên 240 cá thể lợn thế hệ 1 (gồm 60 đực và 60 cái giống Landrace; 60 đực và 60 cái giống Yorkshire) trong giai đoạn khối lượng từ 30 kg đến 100 kg.
  • Đánh giá phẩm chất tinh dịch trên 40 cá thể lợn đực giống (20 đực thế hệ 0 khai thác 30 lần mỗi con, tương ứng 600 mẫu tinh dịch; 20 đực thế hệ 1 khai thác 10 lần mỗi con, tương ứng 200 mẫu tinh dịch).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc phân tầng và ngẫu nhiên có kiểm soát, toàn bộ cá thể được quản lý mã số định danh bằng xăm tai và đeo thẻ tai nhựa. Lợn đực kiểm tra năng suất được nuôi nhốt cá thể trong ô chuồng riêng, trong khi lợn cái được phân lô nuôi nhóm 15 con mỗi ô bảo đảm mật độ diện tích và độ đồng đều về thể trạng. Đàn lợn được cung cấp thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh với năng lượng trao đổi từ 3.050 đến 3.100 kcal/kg và hàm lượng protein thô từ 16,0% đến 18,0% theo từng giai đoạn sinh trưởng.

Dữ liệu khối lượng được cân bằng cân điện tử Richie Scotland chính xác đến 0,5 kg; độ dày mỡ lưng đo tại điểm P2 bằng máy siêu âm Imago; nồng độ tinh trùng xác định qua máy đo quang phổ Metro sperm Tây Ban Nha. Toàn bộ số liệu được phân tích thống kê trên phần mềm Minitab 16. Nghiên cứu xác định các tham số thống kê mô tả gồm số lượng mẫu, giá trị trung bình và sai số chuẩn của số trung bình. Kiểm định phân tích phương sai kết hợp phép thử Tukey được lựa chọn để so sánh cặp giữa các giá trị trung bình ở mức ý nghĩa P < 0,05. Phép thử Tukey được ưu tiên sử dụng vì có khả năng kiểm soát chặt chẽ sai số loại I khi thực hiện nhiều phép so sánh đồng thời giữa các tổ hợp giống và thứ tự lứa đẻ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lợn nái Landrace và Yorkshire nguồn gốc Mỹ thể hiện tiềm năng sinh sản vượt trội ở thế hệ xuất phát. Số con sơ sinh sống trên mỗi ổ của giống Landrace đạt 13,39 con, cao hơn 10,94% so với giống Yorkshire (12,07 con, P < 0,05). Số con cai sữa trên mỗi ổ của Landrace đạt 11,29 con, cao hơn 5,22% so với Yorkshire (10,73 con, P < 0,05). Về khối lượng sơ sinh, lợn con Yorkshire đạt 1,45 kg mỗi con, cao hơn 5,84% so với lợn Landrace (1,37 kg, P < 0,05). Khối lượng cai sữa toàn ổ ở 22,5 ngày tuổi của Landrace đạt 74,06 kg và Yorkshire đạt 72,21 kg.

Thứ hai, khả năng sinh trưởng của lợn thế hệ 1 trong giai đoạn kiểm tra năng suất từ 30 kg đến 100 kg đạt mức rất cao. Tăng khối lượng bình quân ngày của giống Yorkshire đạt 884,50 g/ngày, cao hơn 3,15% so với giống Landrace (857,51 g/ngày). Độ dày mỡ lưng đo bằng siêu âm ở thời điểm kết thúc kiểm tra của lợn Yorkshire đạt mức mỏng ấn tượng là 11,73 mm, trong khi lợn Landrace là 12,17 mm, khẳng định ưu thế nạc hóa vượt trội của cả hai dòng giống.

Thứ ba, đàn lợn đực giống nhập nội và đàn con sinh ra tại Việt Nam duy trì phẩm chất tinh dịch tuyệt vời. Thể tích tinh dịch bình quân của đực Landrace đạt 238,95 ml và Yorkshire đạt 241,60 ml; hoạt lực tinh trùng tiến thẳng lần lượt đạt 84,80% và 85,33%; nồng độ tinh trùng đạt 311,71 triệu/ml ở Landrace và 312,69 triệu/ml ở Yorkshire; chỉ số tổng hợp VAC đạt 62,74 tỷ tinh trùng tiến thẳng mỗi lần xuất tinh ở Landrace và 64,05 tỷ ở Yorkshire.

Thứ tư, năng suất sinh sản có sự tiến bộ rõ nét theo thứ tự lứa đẻ. Ở lợn nái Landrace, số con cai sữa trên ổ tăng từ 10,83 con ở lứa 1 lên 11,75 con ở lứa 2, tương đương mức tăng 8,49% (P < 0,05), đồng thời khối lượng cai sữa toàn ổ tăng thêm 3,89 kg (từ 72,13 kg lên 76,02 kg, P < 0,05). Ở lợn nái Yorkshire, số con cai sữa trên ổ tăng từ 10,31 con ở lứa 1 lên 11,14 con ở lứa 2, tương đương mức tăng 8,05% (P < 0,05).

Thảo luận kết quả

Thành tích sinh sản và sinh trưởng xuất sắc của đàn lợn bắt nguồn từ tiềm năng di truyền thuần chủng đỉnh cao của cơ sở giống Cedar Ridge Genetics kết hợp với điều kiện nuôi dưỡng đạt chuẩn tại Trạm Kỳ Sơn. Hiện tượng năng suất lứa 2 cao hơn rõ rệt so với lứa 1 phản ánh quy luật phát triển sinh lý tự nhiên khi lợn nái hoàn thiện thể vóc, đồng thời minh chứng khả năng thích nghi tốt của đàn nái nhập khẩu sau khi vượt qua giai đoạn stress chuyển vùng và biến đổi khí hậu.

So sánh với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, số con sơ sinh sống của lợn nái Landrace Mỹ (13,39 con) cao hơn đáng kể so với kết quả của tác giả Hoàng Thị Thủy (9,60 con) và tác giả Đoàn Phương Thúy (10,48 con). Chỉ tiêu tổng số tinh trùng tiến thẳng VAC (62,74 đến 64,05 tỷ/lần) vượt trội hơn hẳn các công bố trong nước trước đó dao động từ 34,71 đến 53,02 tỷ/lần, đồng thời tương đương với các nghiên cứu quốc tế tại Thái Lan (62,18 đến 68,67 tỷ/lần) và Ba Lan (68,80 đến 75,00 tỷ/lần).

Về mặt biểu diễn dữ liệu khoa học, mối tương quan giữa các chỉ tiêu số con sơ sinh sống, số con để nuôi và số con cai sữa qua từng lứa đẻ có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột phân nhóm (Grouped Bar Chart). Các chỉ tiêu sinh trưởng và phẩm chất tinh dịch nên được tổng hợp qua bảng phân tích phương sai đa chiều ANOVA kèm ký hiệu phân hạng chữ cái Tukey để làm nổi bật mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các biến số.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và áp dụng quy trình quản lý dinh dưỡng chuyên biệt cho từng giai đoạn sinh lý của lợn nái ngoại. Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương cùng Trạm Nghiên cứu Kỳ Sơn cần triển khai ngay trong quý I năm 2018 việc tối ưu hóa khẩu phần ăn giai đoạn mang thai và nuôi con với mức năng lượng 3.050 kcal/kg, nhằm mục tiêu duy trì tỷ lệ sống của lợn con theo mẹ trên 93,0% và rút ngắn khoảng cách lứa đẻ xuống dưới 155 ngày.

Thứ hai, thiết lập hệ thống chọn lọc hạt nhân đàn đực giống dựa trên chỉ số tổng hợp VAC. Ban quản lý Trạm Kỳ Sơn cần chủ trì trong giai đoạn 2018 đến 2020 việc loại thải nghiêm ngặt các cá thể đực có hoạt lực tinh trùng dưới 80,0%, hướng tới mục tiêu nâng cao chỉ số VAC bình quân của đàn đực giống thế hệ tiếp theo vượt mức 66,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng cho mỗi lần xuất tinh.

Thứ ba, ứng dụng quy trình khai thác và bảo tồn tinh dịch chuẩn hóa với tần suất 2 lần mỗi tuần. Đội ngũ kỹ thuật viên thụ tinh nhân tạo cần thực hiện định kỳ từ tháng 4 năm 2018, bảo đảm mỗi lần xuất tinh sản xuất được từ 22 đến 25 liều tinh thương phẩm đạt chất lượng 2,5 tỷ tinh trùng tiến thẳng mỗi liều, đồng thời kiểm soát tỷ lệ tinh trùng kỳ hình luôn ở mức dưới 4,0%.

Thứ tư, chuyển giao và thương mại hóa nguồn gen đàn giống hạt nhân thuần Landrace và Yorkshire nguồn gốc Mỹ. Viện Chăn nuôi cần chủ động phối hợp với các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn trên cả nước từ năm 2018 đến năm 2023, phấn đấu cung cấp hàng năm từ 1.500 đến 2.000 lợn giống ông bà và bố mẹ cao sản, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng đàn lợn ngoại 8,0% mỗi năm của ngành nông nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y. Luận văn cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về hệ số di truyền, phương pháp kiểm tra năng suất cá thể giai đoạn 30 đến 100 kg và mô hình xử lý thống kê sinh học chuẩn mực trên phần mềm Minitab 16 phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm thứ hai là các giám đốc kỹ thuật, chuyên gia quản lý giống tại các trung tâm giống và trang trại lợn hạt nhân. Người đọc có thể khai thác trực tiếp các định mức kỹ thuật sinh sản (13,39 con sơ sinh sống/ổ) và bảng tiêu chuẩn phẩm chất tinh dịch để làm thước đo kiểm định chất lượng đàn nái thuần và đực giống nhập ngoại.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô công nghiệp và trang trại thương phẩm. Dữ liệu thực tế về tốc độ tăng trưởng vượt trội 884,50 g/ngày và độ dày mỡ lưng mỏng 11,73 mm là cơ sở tin cậy để xây dựng các tổ hợp lai kinh tế ba hoặc bốn giống, giúp tối ưu hóa hệ số chuyển hóa thức ăn và nâng cao tỷ lệ nạc thân thịt.

Nhóm thứ tư là các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về giống vật nuôi. Báo cáo cung cấp căn cứ thực tiễn vững chắc để xây dựng quy hoạch nhập khẩu nguồn gen gia súc cao sản, hỗ trợ chiến lược hiện đại hóa ngành chăn nuôi lợn Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Năng suất sinh sản của giống lợn Landrace nguồn gốc Mỹ có điểm gì nổi trội so với các nguồn giống ngoại nhập nội trước đây? Nghiên cứu khẳng định nái Landrace Mỹ đạt 13,39 con sơ sinh sống trên mỗi ổ và 11,29 con cai sữa trên mỗi ổ với khối lượng cai sữa toàn ổ đạt 74,06 kg. Các chỉ số này cao hơn từ 10% đến 20% so với mức bình quân 9,60 đến 10,48 con sơ sinh sống từng ghi nhận trên đàn lợn ngoại tại Việt Nam.

Khả năng sinh trưởng của lợn Yorkshire thế hệ 1 đạt kết quả như thế nào trong điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam? Trong giai đoạn kiểm tra năng suất từ 30 kg đến 100 kg, lợn Yorkshire thế hệ 1 đạt tốc độ tăng khối lượng bình quân 884,50 g/ngày, cao hơn lợn Landrace đạt 857,51 g/ngày. Độ dày mỡ lưng đạt mức mỏng lý tưởng 11,73 mm, minh chứng cho khả năng tạo nạc vượt bậc.

Chỉ tiêu phẩm chất tinh dịch của lợn đực giống Landrace và Yorkshire có đáp ứng tốt yêu cầu thụ tinh nhân tạo không? Cả hai giống đực đều thể hiện chất lượng tinh dịch rất cao với thể tích xuất tinh đạt 238,95 đến 241,60 ml, hoạt lực tinh trùng trên 84,80% và tổng số tinh trùng tiến thẳng VAC đạt 62,74 đến 64,05 tỷ/lần, cho phép sản xuất từ 20 đến 30 liều tinh thương phẩm chất lượng cao cho mỗi lần khai thác.

Tại sao năng suất sinh sản của lợn nái ở lứa đẻ thứ 2 lại cao hơn rõ rệt so với lứa đẻ thứ nhất? Ở lứa 2, số con cai sữa của nái Landrace đạt 11,75 con/ổ (tăng 0,92 con so với lứa 1) và Yorkshire đạt 11,14 con/ổ (tăng 0,83 con). Nguyên nhân do lợn nái đã thành thục trọn vẹn về thể vóc, hoàn thiện chức năng tiết sữa và thích nghi hoàn hảo với tiểu khí hậu tại miền Bắc.

Phương pháp kỹ thuật nào được áp dụng để bảo đảm tính chuẩn xác của các số liệu nghiên cứu? Nghiên cứu sử dụng cân điện tử Richie Scotland chính xác đến 0,5 kg, máy siêu âm Imago đo mỡ lưng sống, máy quang học Metro sperm đo nồng độ tinh dịch và phần mềm Minitab 16 xử lý số liệu bằng kiểm định Tukey ở mức ý nghĩa P < 0,05.

Kết luận

  • Năng suất sinh sản vượt bậc: Đàn nái Landrace và Yorkshire nhập khẩu từ Mỹ thích nghi xuất sắc với điều kiện nuôi dưỡng tại Việt Nam, đạt số con sơ sinh sống lần lượt là 13,39 con/ổ và 12,07 con/ổ; số con cai sữa đạt 11,29 con/ổ và 10,73 con/ổ.
  • Khả năng tăng trọng và tạo nạc đỉnh cao: Lợn thế hệ 1 trong giai đoạn 30 đến 100 kg đạt tốc độ tăng khối lượng ấn tượng 857,51 g/ngày ở Landrace và 884,50 g/ngày ở Yorkshire, cùng độ dày mỡ lưng mỏng từ 11,73 đến 12,17 mm.
  • Phẩm chất tinh dịch đực giống tối ưu: Đàn đực giống duy trì hoạt lực tinh trùng tiến thẳng trên 84,80% và chỉ số tổng hợp VAC đạt 62,74 đến 64,05 tỷ tinh trùng tiến thẳng mỗi lần xuất tinh, phục vụ hoàn hảo công tác pha chế tinh nhân tạo.
  • Năng suất gia tăng theo lứa đẻ: Lứa đẻ thứ 2 ghi nhận sự bứt phá với số con cai sữa của nái Landrace đạt 11,75 con/ổ và khối lượng cai sữa toàn ổ đạt 76,02 kg, khẳng định giá trị khai thác lâu dài của đàn giống.
  • Cơ sở dữ liệu hạt nhân tin cậy: Đề tài đã cung cấp hệ thống dẫn liệu khoa học chuẩn xác, khẳng định giá trị ưu việt của nguồn gen lợn thuần Cedar Ridge Genetics trong việc nâng tầm chất lượng đàn giống hạt nhân quốc gia.

Công trình là bước đột phá khoa học quan trọng trong việc đánh giá và phát triển nguồn gen lợn hạt nhân cao sản, định hình lộ trình nhân thuần và phân phối giống giai đoạn 2018 đến 2025. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp chăn nuôi hãy ứng dụng ngay bộ dữ liệu thực nghiệm giá trị này để chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, nâng cao năng suất đàn nái vượt mức 28 con cai sữa trên nái mỗi năm và gia tăng tối đa hiệu quả kinh tế cho chuỗi sản xuất thịt lợn Việt Nam.