ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi lợn được hình thành từ rất sớm và không ngừng phát triển, là một trong những ngành quan trọng, đóng góp lượng lớn thực phẩm cho nước ta. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước, xuất khẩu mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến (xúc xích, thịt hộp,. Theo Tổng cục thống kê, sau khi dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát, đàn lợn dần hồi phục, sản lượng thịt hơi xuất chuồng về cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân. Nếu năm 2019, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 3.328,8 nghìn tấn, giảm 14,1% so với năm 2018 thì đến năm 2020, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước tính đạt 3.474,9 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2019 (quý IV ước đạt 991,8 nghìn tấn, tăng 30%); Quý I năm 2021, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước tính đạt 1.018,8 nghìn tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước.
Từ thực tế đáp ứng nhu cầu của con người cũng như vai trò kinh tế mà nó mang lại, ngành chăn nuôi lợn ngày càng phát triển, vì vậy vấn đề năng suất, chất lượng thịt, chất lượng con giống cần được nâng cao. Để đạt được mục tiêu trên, cơ cấu đàn giống phải thay đổi. Một số giống lợn ngoại được nhập vào nước ta như: Yorkshire, Landrace, Pietrain, Duroc. được nhân thuần hoặc tạo các tổ hợp lai có khả năng sinh sản tốt, tỷ lệ nạc cao, tốc độ tăng trưởng nhanh; đang là đối tượng được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả.
Mặc dù các tổ hợp lai đã được nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng. Tuy nhiên với mong muốn tìm hiểu, nắm bắt nguyên nhân để can thiệp hoặc hạn chế tối đa các tác động gây ảnh hưởng không tốt đến năng suất và chất lượng sinh sản 1 trên đàn lợn nái nhập nội ở từng địa điểm chăn nuôi khác nhau từ các yếu tố bên ngoài như: Dinh dưỡng, khí hậu, vệ sinh thú y. cho đến đặc điểm sinh sản của giống lợn nghiên cứu. Mục đích để lựa chọn đối tượng con giống, phương thức chăn nuôi, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh thú y thích hợp, cho năng suất cao.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng sinh sản của đàn lợn nái lai F1(Landrace x Yorkshire) được phối với đực Duroc nuôi tại trang trại xã Bình Thuận, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích o Đánh giá được năng suất của đàn lợn nái lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc được nuôi tại trại Bình Thuận, Đại Từ, Thái Nguyên. o Xác định được lượng thức ăn tiêu tốn cho 1kg lợn con cai sữa o Theo dõi và tìm hiểu một số bệnh trên nái và trên lợn con 1.
Yêu cầu o Thu thập đầy đủ và chính xác số liệu o Nắm được quy trình nuôi dưỡng chăm sóc và phòng bệnh cho đàn lợn tại trại. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC 2.Tuổi thành thục về tính và thể vóc a, Tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ về tính dục và có khả năng sinh sản. Khi con vật đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh như tuyến vú, tử cung, âm đạo, trứng bắt đầu rụng và có khả năng thụ thai.
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng. Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kì biểu hiện bằng những triệu chứng động dục gọi là chu kì tính. Thời gian của chu kì động dục được tính từ lần động dục trước đến động dục sau. Lợn có chu kì động dục 17 - 24 ngày; trung bình 21 ngày.
Thời gian động dục kéo dài 3 - 7 ngày; trung bình 5 ngày và chia ra làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh. Giai đoạn trước động dục (kéo dài 1 - 2 ngày) Đây là giai đoạn đầu của chu kì sinh dục và tính từ khi thể vàng của chu kì động dục trước đến lần động dục tiếp theo. Nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục, trong đó có sự phát triển của bao noãn. Bao noãn thành thục nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường.
Đường sinh dục xung huyết, nhu động của tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhầy của âm đạo tiết ra niêm dịch, cổ tử cung hé mở. Tất cả những biến đổi này đều chuẩn bị cho tế bào trứng tách ra khỏi bao trứng. Đầu giai đoạn đường kính của bao noãn là 4 mm, đến cuối giai đoạn tăng 8 – 12mm. Giai đoạn này cơ quan sinh dục có biểu hiện: âm đạo sưng đỏ, có một ít nước nhờn, con vật bồn chồn không ăn, biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng 3 con khác hay thành chuồng nhưng không cho con khác nhảy lên lưng hoặc bỏ chạy khi người dẫn tinh ấn vào mông.
Ở giai đoạn này không nên phối ép vì trứng chưa rụng không có khả năng thụ thai. Giai đoạn động dục (kéo dài 2 - 3 ngày) Gồm 3 thời kì liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực, giai đoạn này tế bào trứng tách khỏi noãn bao. Toàn bộ cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt các biến đổi sinh lý. Lượng oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất 112 mg% trong đó bình thường chỉ có 64 mg% do đó gây hưng phấn nhanh chóng mạnh mẽ toàn thân.
Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: âm hộ xung huyết, tấy sung lên, chuyển từ màu hồng đỏ sang màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết dịch nhiều chuyển từ trong suốt và loãng sang đặc dần keo dính và loãng có tác dụng làm trơn đường sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn. Các biểu hiện về thần kinh: thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ ăn, bồn chồn không yên tĩnh, hoặc kêu rít lên phá chuồng, nhảy lên lưng con khác. Lúc đầu chưa cho con đực nhảy sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng im cho con đực nhảy. Trứng rụng: ở lợn sau khi động dục 24 – 30 giờ thì trứng rụng và thời gian trứng rụng kéo dài 10 – 15 giờ.
Vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sản xuất có hiệu quả thụ thai cao. Các biểu hiện về sinh lý khi trứng rụng: thân nhiệt tăng 0,8 - 1,2độ C, nhịp tim tăng, bạch cầu trung tính tăng, sau khi trứng rụng mà được thụ tinh thì chuyển sang thời kỳ chửa, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang thời kì sau động dục. 4 Giai đoạn sau động dục (thường kéo dài 2 ngày) Đặc điểm của giai đoạn này là toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần được khôi phục ở trạng thái hoạt động sinh dục bình thường, âm hộ bắt đầu teo lại, tái dần, lợn ăn uống tốt hơn. Bên trong trứng xuất hiện thể vàng.
Thể vàng tiết hormone progesterone làm ức chế trung khu sinh dục vùng dưới đồi (Hypothalamus) ức chế tuyến yên giảm tiết hormone oestrogen, làm giảm hưng phấn thần kinh và ngừng tiết dịch ở tử cung. Khi gia súc cái mang thai thể vàng tồn tại trong suốt quá trình mang thai (từ 2 - 3 ngày trước khi đẻ). Nếu không mang thai thể vàng sẽ tiêu biến thì 1 chu kì mới bắt đầu. Giai đoạn yên tĩnh Đây là giai đoạn kéo dài nhất (từ 12 - 14 ngày) thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi rụng trứng mà được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến.
Đây là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh để khôi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho chu kì tiếp theo. Trong thực tế ta còn gặp các trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục thầm lặng và hiện tượng lưỡng tính. Cần phát hiện ra những con này để loại bỏ sớm, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái. * Sinh lý của gia súc mang thai: Sau khi trứng được thụ tinh, hợp tử hình thành và phát triển qua 3 thời kì.
Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con. Thời kì phôi thai (từ ngày thứ 1 - 22) Bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, 20 giờ sau khi thụ tinh, hợp tử bắt đầu phân chia chuyển dần vào hai bên sừng tử cung và làm tổ ở đó, trong sừng tử cung hợp tử lại tiếp tục phân chia thành hàng trăm tế bào phôi. Túi phôi được hình thành sau đó 5 - 6 ngày, túi phôi chứa chất lỏng. Màng ối hình thành sau 7 - 8 ngày, đây là màng ngoài cùng bao bọc lấy bào thai 5 trong có chứa dịch ối.
Dịch ối có tác dụng giúp cho bào thai nằm thoải mái, đệm đỡ cho bào thai không bị va chạm với các cơ quan xung quanh của cơ thể lợn mẹ. Màng niệu được hình thành sau khoảng 10 ngày, là màng giữa có chứa dịch niệu, chứa nước tiểu của bào thai, chứa kích tố nhau thai, trong dịch niệu cũng chứa một số chất dinh dưỡng cung cấp cho bào thai. Màng đệm được hình thành sau khoảng 12 ngày là màng ngoài cùng tiếp giáp với niêm mạc tử cung của lợn mẹ, trên bề mặt của màng đệm có nhiều lông nhung để hút các chất dinh dưỡng từ cơ thể lợn mẹ. Cuối thời kì này thì trọng lượng của phôi đạt 1 - 2 g, hình dáng và các cơ quan bộ phận như: đầu, hố mắt, tim, gan được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, sự gắn kết giữa cơ thể mẹ và bào thai chưa chắc chắn nên dễ bị sảy thai.
Thời kì tiền thai (từ ngày thứ 23 - 39) Thời kì này nhau thai được hình thành, sự gắn kết giữa nhau thai và cơ thể mẹ chắc chắn hơn nên ít xảy ra hiện tượng sảy thai. Thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ qua nhau thai. Cuối thời kì này hầu hết các cơ quan bộ phận đã được hình thành nhưng khối lượng còn nhỏ, chỉ đạt khoảng 6 - 7 g/thai.