Đặt vấn đề Ở Việt Nam, chăn nuôi gia cầm đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hộ gia đình, có đến 90% là chăn nuôi gia cầm trong nông hộ (FAO 2017). Theo tổng cục thống kê 2017, tổng số gia cầm đạt 361,2 triệu con tương đương 573,1 nghìn tấn thịt hơi, riêng đối với gà thì tổng số đạt 275,7 triệu con. Hiện nay, khi đời sống của người dân ngày càng nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm không những chỉ đảm bảo đủ về số lượng mà còn đòi hỏi cao về chất lượng. Vì vậy, các giống gia cầm địa phương có chất lượng thịt thơm ngon ngày càng được quan tâm và chú trọng phát triển đặc biệt là các giống gà quý hiếm như gà Đông Tảo, Ri, Ác, Hồ, H’Mông, Mía,… Một trong số những giống gà có chất lượng thịt thơm, ngon và cần được bảo tồn, phát triển đó là giống gà Đông Tảo.
Gà Đông Tảo là giống gà bản địa ở nước ta thuộc nhóm gà quý hiếm từ xa xưa vì có tầm vóc lớn đặc biệt là cặp chân to hơn hẳn gà Hồ, gà Mía và các giống gà khác, gà Đông Tảo hay còn gọi là gà Đông Cảo có nguồn gốc ở xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Với ngoại hình to lớn kết hợp với cặp chân to xù xì gây khó khăn trong việc sinh sản. Chúng được chăn nuôi chủ yếu ở các nông hộ theo phương thức chăn thả tự nhiên nhỏ lẻ, không tập chung nên nguồn gen gốc đã bị pha tạp và mất đi. Hiện nay gà Đông Tảo không giữ được nguồn gen gốc mà đã được lai với các giống gà địa phương cho ra con gà Đông Tảo Lai với nhiều giống gà khác cho con lai thương phẩm đem lại năng suất cao hơn và khả năng sinh sản tăng.
Để có cơ sở cho việc định hướng phát triển đàn gà trong thực tiễn sản xuất, phục vụ nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lượng cao và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi, chúng tôi đã tiến hành đề tài này: “KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ ĐÔNG TẢO LAI TẠI TRANG TRẠI VŨ VĂN THẾ XÃ YÊN HÒA, HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 2.1 Mục đích - Tạo cơ sở dữ liệu cần thiết để giúp người chăn nuôi, cung cấp thêm thông tin về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, hướng sử dụng và phát triển loại gà Đông Tảo Lai trong tương lai. - Đánh giá năng suất đẻ trứng của gà Đông Tảo Lai từ 24 đến 48 tuần tuổi. - Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng và khả năng ấp nở.2 Yêu cầu - Tuân thủ các quy định của trang trại - Số liệu thu được chân thực khách quan 2 Chương 2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về giống gà Đông Tảo Lai 2. Nguồn gốc Gà Đông Tảo hay còn gọi là gà Đông Cảo là một trong những giống gà bản địa quý hiếm của Việt Nam. Đây là giống gà nuôi cổ truyền của xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Chúng được chăn nuôi chủ yếu ở các nông hộ theo phương thức chăn thả tự nhiên nhỏ lẻ, không tập chung nên nguồn gen gốc đã bị pha tạp và mất đi. Hiện nay gà Đông Tảo không giữ được nguồn gen gốc mà đã được lai với các giống gà địa phương như Mía, Ri, Hồ,… cho ra các con bố mẹ. Từ con bố mẹ cho ra các đời sau là gà Đông Tảo Lai. Đặc điểm ngoại hình Đặc điểm ngoại hình: Gà Đông Tảo là giống gà có thân hình to khỏe đặc biệt có cặp chân to xù xì được bao quanh một nếp vẩy không thẳng hàng màu hồng, có hai loại vảy là vảy thịt và vảy rồng.
Gà trống có mào phát triển hơn gà mái, mào sụn và thun lại với nhau có màu đỏ tía, đỏ tươi. Do phương thức chăn thả tự nhiên và phân tán trong nhân gian từ lâu đời nên giống gà Đông Tảo đã phân ly thành những dòng với nhiều màu lông khác nhau: gà mái có màu nâu xám, vàng trắng đục. Sắc lông gà trống màu tía nâu, xen lẫn vàng đỏ nâu đen. Và ở giống gà Đông Tảo Lai thì con trống cũng như là con mái thì chúng có điểm chung là da của chúng đều có màu đỏ ở những phần không có lông trên da.
Gà sinh trưởng: khối lượng gà Đông Tảo Lai sau 6 tháng nuôi, gà mái đạt từ 2,0–2,8kg, gà trống đạt từ 3 – 3,5 kg. Sinh sản: tuổi đẻ đầu tiên 154 ngày, sản lượng trứng đạt từ 8-10 trứng/mái/lứa (60 – 70 trứng/mái/năm) 3 2. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản 2. Tuổi thành thục sinh dục Khi các cơ quan sinh dục ở gà phát triển hoàn chỉnh khi đó gà thành thục sinh dục.
Đối với từng cá thể, tuổi thành thục sinh dục ở gà mái được tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên. Đối với quần thể, tuổi thành thục sinh dục được tính từ khi tỷ lệ đẻ của đàn đạt 5% (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011). Tuy nhiên, để chính xác nhất về tuổi thành thục sinh dục cần theo dõi trên từng cá thể. Tuổi thành thục sinh dục chịu ảnh hưởng của giống và môi trường.
Các giống khác nhau thì có tuổi thành thục sinh dục khác nhau. Theo Trần Thị Mai Phương (2004) cho rằng tuổi thành thục sinh dục của gà khoảng 170 – 180 ngày tuổi, biến động trong khoảng 15 – 20 ngày. Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà Ri là 135 – 144 ngày (Theo Nguyễn Văn Thạch, 1996), gà Ác là 113 – 121 ngày (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2000), gà Hồ là 240 – 255 ngày (Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Thanh, 1999), gà nhiều ngón là khoảng 28 tuần tuổi (Nguyễn Hoàng Thịnh và cs, 2016), gà Mán là 200 ngày (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2003), tuổi thành thục sinh dục của gà Mía là 188,17 ngày (Nguyễn Chí Thành và cs, 2009), gà Leghorn là 150 – 170 ngày (Morris, 1967). Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn còn liên quan đến khối lượng của vật nuôi.
Những gia cầm có khối lượng cơ thể nhỏ thường có thành thục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn (Nguyễn Chí Thành, 2008). Ngoài ra, những giống gà hướng thịt và kiêm dụng có tuổi thành thục sinh dục muộn hơn giống gà hướng trứng. Gà thường có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn vịt và ngỗng. Ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục của gia cầm.
Trong giai đoạn hậu bị, thời gian chiếu sáng kéo dài gà thành thục sớm hơn. Nhưng đồng thời cũng có những tác hại không nhỏ: sức đẻ trứng giảm và khả năng kháng bệnh cũng giảm (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009). Năng suất trứng Năng suất trứng là số trứng đẻ ra trong một khoảng thời gian nhất định của một gia cầm mái. Đối với gia cầm đẻ trứng, đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục.
Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: giống, đặc điểm từng cá thể hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), năng suất trứng có hệ số di truyền không cao: 0,12 – 0,3. Brandsch và buelchel (1978) cho rằng sản lượng trứng được tính đến 500 ngày tuổi, cũng theo tác giả thì sản lượng trứng cũng có thể được tính theo năm sinh học là 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên. Còn gần đây, người ta tính năng suất trứng theo tuần tuổi.
Năng suất trứng giảm dần theo tuổi của gà, sang năm thứ hai sản lượng trứng thường giảm đi khoảng 15 – 20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009). Để cải thiện năng suất trứng, cần áp dụng các phương pháp lai kết hợp với chọn lọc cá thể. Nếu chỉ áp dụng vào chọn lọc cá thể thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả. Tỷ lệ đẻ Tỷ lệ đẻ là phần trăm giữa số trứng đẻ ra và số gà có mặt trong một khoảng thời gian nhất định.
Tỷ lệ đẻ thường được dùng là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng trên tất cả các gia cầm (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009). Thường tỷ lệ đẻ thấp nhất trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau tăng dần đến tỷ lệ đẻ đỉnh cao ở những tuần tiếp rồi giảm dần đến cuối chu kỳ đẻ (Nguyễn Thị Phương, 2015). Tuy nhiên tỷ lệ đẻ cũng thay đổi bởi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc. Tỷ lệ thụ tinh (tỷ lệ trứng có phôi) Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2011), tỷ lệ thụ tinh (tỷ lệ trứng có phôi) là phần trăm giữa số trứng có phôi và số trứng đẻ ra hay số trứng đem ấp.
Cũng 5 theo các tác giả tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: di truyền, dinh dưỡng, môi trường ngoại cảnh, tuổi gia cầm và tỷ lệ trống mái. ● Yếu tố di truyền: loài, giống hay mỗi cá thể khác nhau thì tỷ lệ thụ tinh khác nhau. Tỷ lệ thụ tinh cũng chịu ảnh hưởng từ kỹ thuật nhân giống. Nếu cho giao phối đồng huyết sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh.
● Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ tinh, nếu trong khẩu phần ăn không đủ các chất dinh dưỡng cần thiết sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh. Đối với gà trống, nếu thiếu protein trong khẩu phần ăn thì phẩm chất tinh dịch sẽ kém vì protein là nguyên liệu cơ bản để hình thành tinh trùng. Nếu thiếu các vitamin, đặc biệt là vitamin A,D,E sẽ làm cho cơ quan sinh dục phát triển không bình thường, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh tinh và các hoạt động sinh dục, làm giảm tỷ lệ thụ tinh. ● Yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng và thời gian chiếu sáng đều là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh.
Thông qua quá trình trao đổi chất ở gia cầm thì nhiệt độ, độ ẩm cao hay thấp hơn mức quy định đều ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh. Tỷ lệ thụ tinh của gia cầm thường cao vào mùa xuân và mùa thu, thấp vào mùa đông và mùa hè, nhất là những ngày đông lạnh hoặc những ngày nắng nóng. ● Yếu tố tuổi gia cầm: gà trống tinh hoàn thường đạt kích thước tối đa ở 28 – 30 tuần tuổi, giai đoạn này tỷ lệ thụ tinh cao. Tinh hoàn có hiện tượng suy thoái sau 48 tuần tuổi, vì vậy, thường thì tỷ lệ thụ tinh của gà trống một năm tuổi cao hơn gà trống hai năm tuổi.