Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất trứng gia cầm 1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của gà 1. Cơ quan sinh dục của gà mái và quá trình tạo trứng Cơ quan sinh dục của gà gồm một buồng trứng và ống dẫn trứng, buồng trứng là cơ quan tạo noãn và lòng đỏ của gà mái đẻ.
Buồng trứng của gia cầm nói chung và gà mái nói riêng không cân đối. Đến tuổi trưởng thành về sinh dục chỉ có buồng trứng bên trái là phát triển, tạo noãn nang và tạo lòng đỏ, còn lại buồng trứng bên phải thì bị teo, không hoạt động. Trong giai đoạn đầu phát triển của phôi cả hai buồng trứng đều hình thành nhưng nó phát triển không đều. Đến ngày ấp thứ 7 buồng trứng bên trái của phôi đã to và nặng hơn buồng trứng bên phải.
Cho đến kết thúc giai đoạn phát triển của phôi (khi gà nở) thì buồng trứng bên phải bị thoái hóa hoàn toàn. Buồng trứng của gia cầm trưởng thành nằm ở bên trái, phía trước thận và được treo lên bởi một thanh mạc bụng. Kích thước và khối lượng buồng trứng của gia cầm rất khác nhau, nó phụ thuộc vào giống, dòng và cá thể. Trong thời gian gà mái đẻ trứng thì khối lượng buồng trứng nặng gấp 10 - 15 lần thời gian gà nghỉ đẻ.
Tế bào trứng được tạo ra ở phần vỏ của buồng trứng hay người ta thường gọi là vùng noãn nang. Mỗi một tế bào trứng được chứa trong một noãn nang, màng của noãn nang được gắn với phần lõi của buồng trứng. Thời gian đầu tế bào trứng chưa được bao bọc lòng đỏ. Cường độ tích tụ lòng đỏ phụ thuộc vào số lượng dinh dưỡng qua máu chuyển vào buồng trứng, lượng dinh dưỡng càng nhiều thì sự tích tụ lòng đỏ càng nhanh.
Các noãn nang (còn gọi là lòng đỏ) của buồng trứng lớn lên không cùng một lúc mà nó lần lượt, cái nọ tiếp cái kia đến khi đạt kích thước đường kính khoảng 2,5 - 3cm thì trứng rụng. n 4 Quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào trứng trong buồng trứng chịu sự điều khiển của hocmon thể dịch và hệ thần kinh trung ương. Nếu đưa vào cơ thể gà mái đẻ hocmon tuyến yên, sẽ dẫn đến tăng nhanh kích thước và khối lượng đồng thời một vài tế bào trứng. Tác động lên gà mái đẻ ánh sáng và một số yếu tố ngoại cảnh khác sẽ làm kích thích quá trình trao đổi chất từ đó làm tăng cường quá trình tạo lòng đỏ và tạo trứng.
Ở giai đoạn đầu noãn nang sinh trưởng và phát triển rất chậm, nó chỉ lớn nhanh trong khoảng 10 ngày ở giai đoạn cuối trước khi trứng rụng. Nếu trong thời gian tạo lòng đỏ của trứng chế độ ăn uống và chăm sóc không tốt sẽ làm giảm rõ rệt tốc độ tạo lòng đỏ dẫn đến giảm sản lượng trứng. Trong quá trình phát triển noãn nang thời gian đầu nhân nằm ở trung tâm của tế bào trứng, đến khi đạt kích thước 1mm nó chuyển ra vùng ngoại biên của tế bào và được gọi là đĩa phôi. Đến khi kích thước của lòng đỏ đạt khoảng 2,5 - 3,0 cm (đường kính) thì trứng chín và rụng vào loa kèn đi vào ống dẫn trứng.
Tại phần loa kèn trứng sẽ được thụ tinh nếu gặp tinh trùng. Ở những gà mái đẻ có sản lượng trứng cao (ngày nào cũng đẻ) thì lòng đỏ thường rụng sau khi nó đẻ trứng được khoảng nửa giờ. Từ loa kèn lòng đỏ đi vào phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng. Phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng ở gà mái đẻ tương đối dài khoảng 30 - 34cm.
Chức năng tiết lòng trắng của ống dẫn trứng được thực hiện bởi các tế bào biểu mô và các tuyến hình ống ở màng nhầy thành ống dẫn trứng. Nhờ có nhu động tịnh tiến và những nếp gấp của thành ống dẫn trứng mà lòng đỏ chuyển động xoay tròn, tịnh tiến theo ống dẫn trứng. Đầu tiên lòng đỏ được bao bọc bởi lớp lòng trắng đặc mà phía đầu nhọn và đầu tù của trứng nó phát triển thành dây chằng để giữ cho lòng đỏ nằm ở trung tâm của trứng. Tiếp sau đó lòng đỏ được bao bọc lớp lòng trắng đặc giữa, nó được cấu tạo bởi các sợi musin cực mỏng.
Trong quá trình chuyển động xuống phần dưới của ống dẫn n 5 trứng xuất hiện lớp lòng trắng loãng trong, nằm giữa hai lớp lòng trắng đặc và lớp lòng trắng loãng ngoài tiếp giáp với màng dưới vỏ trứng. Thời gian lòng đỏ đi qua phần tiết lòng trắng và hoàn thành việc hình thành lòng trắng hết khoảng 3 giờ đồng hồ. Sau khi được bao bọc lòng trắng trứng di chuyển xuống phần eo của ống dẫn trứng. Tại đây trứng được bao bọc bởi hai lớp màng mỏng là lớp màng bao bọc ngoài lòng trắng và lớp màng dưới vỏ trứng.
Thời gian này các chất khoáng hòa tan trong nước vẫn tiếp tục qua các lớp màng đi vào lòng trắng và lòng đỏ. Thời gian trứng dừng lại ở phần eo khoảng hơn 1 giờ. Cuối cùng trứng được chuyển xuống phần tử cung để tạo vỏ trứng. Quá trình tạo vỏ trứng xẩy ra rất chậm chạp.
Lúc đầu chỉ là những tinh thể muối canxi riêng rẽ tích tụ trên lớp màng dưới vỏ trứng. Sau đó giữa các tinh thể muối canxi xuất hiện các hợp chất hữu cơ, chúng liên kết với nhau và hình thành lên lớp vỏ trứng. Trên vỏ trứng còn hình thành nhiều lỗ nhỏ tập chung chủ yếu ở phần đầu tù của vỏ trứng để tạo điều kiện cho phôi hô hấp. Tử cung đã bài tiết một lượng lớn muối canxi chủ yếu ở dạng CaCO3 (khoảng 5g trong 20 giờ).
Bởi vậy nếu thiếu canxi trong thức ăn gà mái sẽ phải huy động canxi của xương và nếu tình trạng thiếu canxi kéo dài gà mái sẽ đẻ trứng không vỏ, bị liệt dẫn tới ngừng đẻ trứng. Thời gian trứng lưu lại để tạo vỏ trứng ở tử cung là lâu nhất (khoảng 19 tiếng trở lên). Như vậy, nếu thời gian để hình thành một quả trứng nhỏ hơn hoặc bằng 24 giờ thì gà mái sẽ đẻ ngày một quả trứng, còn ngược lại nếu lớn hơn 24 giờ thì gà mái sẽ đẻ cách nhật. Theo CI Setnev, 1985 (trích Đào Văn Khanh, 1996) [17] cho biết trong buồng trứng của gà mái đẻ có chứa số lượng lớn tế bào trứng (khoảng 2.000 trứng nếu đếm bằng mắt thường và khoảng 12.000 tế bào trứng nếu đếm bằng kính hiển vi).
Song trong thực tế ta chỉ thu được một phần nhỏ số tế bào trứng n 6 đó phát triển thành trứng bình thường. Ví dụ một gà mái có sản lượng trứng cao nhất nếu sử dụng một năm đẻ trứng cũng chỉ được khoảng 350 quả trứng, 2 năm đẻ trứng được khoảng 600 quả và 3 năm đẻ trứng được khoảng 800 quả. Rõ ràng so với số lượng tế bào trứng thực có ở buồng trứng gia cầm ta mới chỉ khai thác được một phần không lớn, số còn lại tương đối nhiều chưa khai thác hết. Như vậy, khả năng để khai thác tăng thêm sản lượng trứng ở gà mái là có cơ sở.
* Những trường hợp dị hình + Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rồi vào loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được vì vậy vẫn có quá trình tạo trứng và hình thành trứng nhỏ + Trứng 2 lòng đỏ: Do hai trứng cùng rụng một thời điểm hoặc cách nhau không quá 20 phút vì vậy hình thành nên quả trứng rất to. + Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bị kích động đột ngột một quả trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây ra nhu động ngược lên phía trên gặp tế bào trứng rụng mới, sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng. Ngoài ra còn có trứng méo mó, không vỏ do thiếu khoáng, vitamin D hoặc do co bóp của ống dẫn trứng. Cơ quan sinh dục gà trống Gồm: Tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và cơ quan giao phối.
Tinh hoàn có hình ô van hoặc hình hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng nằm ở vị trí phía trên thùy trước của thận, cạnh túi khí bụng, khối lượng tinh hoàn phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý. Cơ quan giao cấu có cấu trúc khác biệt, nó không phát triển. Ở gà tây hầu như không có cơ quan giao phối, ngỗng, gà, vịt có hai gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt. n 7 Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc, tế bào sơ cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển, mỗi tinh bào thứ nhất lại chia thành 2 tinh bào thứ 2, tiếp tục phát triển sau đó hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng.
Số lượng một lần phóng tinh gà là 0,6 - 2ml. Trong mỗi 1ml chứa 3,2 tỷ tinh trùng. Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú, nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu (từ 3-5 ngày), tinh trùng gà sống được lâu trong đường sinh dục cái. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm Trứng gia cầm là một tế bào được bao bọc gồm: Vỏ cứng, màng lòng trắng và lòng đỏ.
Trong điều kiện nuôi không có gia cầm trống, thì tế bào trứng không được thụ tinh, nhưng giá trị thực phẩm không thay đổi. Vì vậy, trong sản xuất trứng thương phẩm người ta không cần nuôi gia cầm trống để bớt chi phí thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế. Nếu nuôi chung trống mái, thì trứng sẽ được thụ tinh và phôi phát triển trong cơ thể mẹ, sau khi đẻ ra tiếp tục phát triển thông qua việc ấp nở của con mẹ hoặc máy ấp nhân tạo. + Về khối lượng trứng Khối lượng trứng gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Loài, giống, cá thể, mùa vụ.
Trứng gia cầm trưởng thành lớn hơn trứng của gia cầm bắt đầu đẻ 20 - 30%, khối lượng trứng năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất từ 10 - 15%. Khối lượng trứng của những quả trứng đầu trong chu kỳ đẻ lớn hơn ở cuối kỳ đẻ. Khối lượng trứng gia cầm là một tính trạng số lượng có hệ số di truyền h2 = 0,3 - 0,7 và tính trạng chịu ảnh hưởng của nhiều gen. + Về chất lượng trứng Chất lượng trứng phụ thuộc vào thành phần hóa học, tính chất lý học, đặc điểm di truyền của gia cầm.