1 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà SASSO nuôi tại Trại giống gia cầm Thịnh Đán thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên PHẦN THỨ NHẤT CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Trại giống gia cầm Thịnh Đán là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung tâm vật nuôi tỉnh Thỏi Nguyờn, nằm trên địa bàn phường Thịnh Đán – Thành phố Thỏi Nguyờn trờn tuyến đường đi Hồ Núi Cốc, cách trung tâm thành phố 4 km về phía tây, ranh giới của phường Thịnh Đán được xác định như sau: Phía đông nam giáp phường Tân Lập - thành phố Thỏi Nguyờn; Phía tây nam giáp với xã Thịnh Đức - thành phố Thỏi Nguyờn; Phía tây giáp với xã Quyết Thắng - thành phố Thỏi Nguyờn; Phía bắc giáp với phường Tõn Thịnh - thành phố Thỏi Nguyờn.
Do đó giao thông thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho việc đi lại vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp giữa các phường xã với nhau cũng như tới cỏc vựng miền khác. Trại giống gia cầm Thịnh Đán cũng được nằm trong khu vực thuận lợi này. Điều kiện đất đai 2 Phường Thịnh Đỏn cú địa hình chủ yếu là đồi núi, thể hiện ở diện tích đất sử dụng với diện tích đất của phường là 4,7 km2 trong đó: - Diện tích đất trồng lúa 97 ha; - Diện tích hoa màu 162 ha; - Diện tích đất trồng cây ăn quả 52 ha; - Diện tích đất ở 86 ha; - Diện tích đất lâm nghiệp 96 ha; - Còn lại là các loại đất khác. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng chăn nuôi.
Tuy nhiên do địa hình phức tạp, khó tập trung. Điều kiện khí hậu thuỷ văn Phường Thịnh Đán nằm ở phía tây của Thành phố Thỏi Nguyờn, tỉnh Thỏi Nguyờn, nằm trong vùng khí hậu chung của miền núi phía bắc Việt Nam, do vậy nó chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa. Mựa đụng: khí hậu lạnh, khô hanh. Mùa hè: khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều.
Dao động nhiệt độ và độ ẩm bình quân của cỏc mựa trong năm tương đối cao thể hiện qua 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình dao động từ 21-290C, độ ẩm trung bình từ 80-86 %, lượng mưa trung bình biến động từ 120,6-283,9 mm/thỏng, nhưng tập trung chủ yếu vào cỏc thỏng 6, 7, 8. 3 Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Thời gian này khí hậu thường khô hanh và lạnh, ẩm độ, nhiệt độ giảm đáng kể.
Nhiệt độ trung bình dao động từ 13,7-24,80C (có những ngày xuống dưới 10 0C), ẩm độ thấp. Ngoài ra trong mùa đông còn có gió mùa đông bắc, giá rét và có sương muối, kéo dài 6-10 ngày, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng và vật nuôi. Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của phường Thịnh Đán. Điều kiện kinh tế Phường Thịnh Đán có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động: Nông - Công nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Trong đó sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm trên 50%, bao gồm cả ngành trồng trọt và chăn nuôi cùng nhau phát triển đồng đều. Dịch vụ là một nghề mới trong giai đoạn hiện nay đang được chú trọng và phát triển một cách mạnh mẽ bởi nó mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Đối với các hộ sản xuất nông nghiệp thu nhập bình quân là 700kg thúc/người/năm. Thu nhập bình quân đầu người của phường năm 2010 là 1.000 đ /người/thỏng.
Trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng của phường xó đó được chú ý đầu tư phát triển, trong đó giao thông, thuỷ lợi được ưu tiên hàng đầu tạo điều kiện thuận lợi cho dân đi lại, làm ăn, buụn bỏn… Trồng trọt, chăn nuôi phát triển là yếu tố góp phần thúc đẩy kinh tế của phường phát triển. Chăn nuôi với quy mô nhỏ mang tính chất tận dụng là chủ yếu, phường đang chủ trương xây dựng mô hình chăn nuôi có quy mô lớn trang thiết bị hiện đại để 4 đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng như mô hình chăn nuôi lợn ngoại, trang trại gia cầm, bò thịt. Điều kiện văn hoá xã hội - Tình hình xã hội + Dân cư Theo số liệu của UBND phường vào thời điểm tháng năm 2010 thì dân số của phường là 16.500 người, với 2.950 hộ, trong đó có 810 hộ sản xuất nông nghiệp, số còn lại là hộ phi nông nghiệp. Là phường nằm trên địa bàn thành phố có rất nhiều dân tộc cùng tham gia sinh sống, đại đa số là người Kinh, Nựng, Sỏn dỡu, Tày… Đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như: Đài, TV, sách báo.
Đây là điều kiện thuận lợi để người dân trong phường nắm bắt kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin khoa học kĩ thuật để phục vụ đời sống hàng ngày.Ngoài ra, phong trào xây dựng nếp sống văn hoá trong phường được đẩy mạnh như: xây dựng gia đình văn hoá, làng xóm văn hoá. + Y tế:Địa bàn phường là nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn của tỉnh: bệnh viện A Thỏi Nguyờn, bệnh viện Y học cổ truyền dân tộc, bệnh viện Tâm thần. Ở phường còn có hệ thống y tế cơ sở hoạt động khá hiệu quả. Các y bác sỹ và cán bộ y tế luôn tận tụy với công việc, thường xuyên quan tâm chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân.
Mọi trẻ em dưới 6 tuổi đều được tiêm phòng vaccine đầy đủ. 5 + Giáo dục: Đây là một phường có trình độ dân trí khá cao, có rất nhiều cơ quan trường học đúng trờn địa bàn phường như: Trường Cao đẳng Sư phạm Thỏi Nguyờn, trường Cao đẳng Kinh tế, trường Trung cấp Y, trường Cao đẳng Kinh tế -Kỹ thuật, trường Phổ thông trung học Ngô Quyền… Trong những năm qua phường đã hoàn thành chương trình giáo dục phổ cập trung học cơ sở. + An ninh chính trị: Do tập trung nhiều nhà máy, trường học, dân cư đông, lượng người giao lưu nhiều nên công tác quản lý xã hội của phường khá phức tạp. Do đó, hoạt động của các ban ngành trong phường phải thường xuyên, liên tục, tích cực và đồng bộ.
Phường đã tích cực xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân, đẩy mạnh sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người dân nhằm từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội như: nghiện hút, trộm cắp, cờ bạc… 1. Tình hình sản xuất 1. Ngành trồng trọt Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu chủ yếu của nhân dân. Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển.
Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn của phường là cây lúa với diện tích trồng khá lớn (105ha). Để nâng cao hiệu quả sản xuất, phường đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm) đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất. Ngoài ra cũn cú một số cõy khỏc được trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, đỗ, ngô. và một số cây rau màu khác được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông.
6 Để cây trồng đạt năng suất cao thì không thể thiếu vai trò của hệ thống thuỷ lợi, những năm trước đây hệ thống thuỷ lợi chưa được cải thiện nên diện tích lúa thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa, khô hạn về mùa đông, đồng ruộng chỉ cấy được một vụ. Hiện nay, nhờ kiên cố kênh mương hoỏ trờn đồng ruộng, số diện tích ngập ỳng, khụ hạn đã được sử dụng có hiệu quả (2 vụ/năm). Người dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, mạnh dạn đưa các giống mới có năng suất cao nhờ đó đã cơ bản giải quyết được nhu cầu lương thực cho người dân. - Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song vườn tạp vẫn nhiều, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh nên năng suất thấp, sản phẩm chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, chưa mang tính chất hàng hoá cao, cây ăn quả chủ yếu là: na, cam, quýt, nhãn, vải.
- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi chiếm khá lớn. Phường đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích cây lâm nghiệp đã được nâng lên, phủ xanh gần hết diện tích đất trống, đồi núi trọc và diện tích rừng mới trồng, tạo điều kiện cho việc quản lý, khai thác hợp lý. Ngành chăn nuôi Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng phát triển không ngừng. Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt, đồng thời cung cấp thực phẩm và nguồn thu nhập kinh tế không nhỏ cho các hộ nông dân.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở phường chủ yếu là tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hoá đưa ra ở thị trường cũn ớt. Trong những năm gần đây người dân đã biết áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, từ các hộ sản xuất manh mún, quy 7 mô nhỏ người dân đã mạnh dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có năng suất cao, trang thiết bị hiện đại vào chăn nuôi nên sản phẩm của ngành chăn nuôi từng bước được nâng cao và đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ cụ thể như sau: + Chăn nuôi trâu bò Tổng đàn trâu bò của phường có khoảng 600 con, trong đó chủ yếu là trâu, trung bình mỗi hộ nông dân có một trâu hoặc bò cày kéo. Hình thức chăn nuôi trâu bò là tận dụng cỏc bói thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho đàn trâu bò chưa thật đầy đủ cả số lượng và chất lượng. Việc dữ trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông chưa được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa đông trâu bò thường có sức khỏe kộm nờn hay mắc bệnh.
Chuồng trại và công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều. Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò thường xuyên bị mắc các bệnh ký sinh trùng và một số bệnh khác. + Chăn nuôi lợn Hầu hết các hộ dân đều chăn nuôi lợn, nhưng số lượng nuụi cũn ớt. Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt như: lỳa, ngụ, khoai, sắn,.
Vì vậy năng suất chăn nuôi lợn chưa cao.