ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng nguồn gen gà bản địa để tạo ra các dòng thuần chủng, tận dụng được khả năng thích nghi, sức kháng bệnh của gà nội đồng thời đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng. Thống kê của FAO (2015) cho thấy, ở Châu Phi và Châu Á 80% các giống gà được nuôi tại các quốc gia là các giống có máu gà bản địa. Mặc dù các nhà chăn nuôi, các doanh nghiệp có nhập khẩu các giống gà công nghiệp năng suất cao từ các nước phát triển nhưng tâm lý và thị hiếu của người tiêu dùng bản địa vẫn sử dụng các giống có máu gà nội là chủ yếu. Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế giới là đồng thời với việc nghiên cứu lai tạo, chọn tạo và phát triển các giống gà công nghiệp chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh (như Cobb, Ross, Lohman, ISA, Avian…) và chuyên trứng có khả năng sinh sản cao (Hyline, Goldline, Brownick…) còn đầu tư nghiên cứu chọn tạo các dòng của các giống gà lông màu hướng thịt, trứng có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với nhiều phương thức chăn nuôi, đặc điểm khí hậu của các châu lục và nhu cầu của người tiêu dùng như gà Kabir, Sasso, Tam Hoàng, Lương Phượng, Dominant.
Nước ta có nguồn gen gà bản địa rất phong phú với nhiều chục giống gà tốt như gà Hồ, Đông Tảo, Mía, Chọi, Ri, HMoong. Chúng có năng suất thịt, trứng thấp nhưng khả năng chống chịu, thích nghi với thời tiết tốt, thịt thơm ngon hợp khẩu vị người Việt. Gà Liên Minh là giống gà quý của huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Đây là giống gà có thân to, rất đẹp, ngoại hình rất đặc trưng, thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng, khả năng đề kháng rất cao và rất được thị trường ưa chuộng vì lớp mỡ dưới da mỏng, da giòn, thịt gà chắc, dai, có vị ngọt, đậm và mùi thơm đặc trưng; thịt gà Liên Minh đã trở thành đặc sản, có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, cho đến nay, các thông tin về gà Liên Minh vẫn còn rất hạn chế. Để góp phần vào việc bảo tồn và phát triển gà Liên Minh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng sản xuất của gà Liên Minh, nuôi tại Cát Hải, Hải Phòng”. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung Cung cấp thông tin cơ bản về của gà Liên Minh, tạo cơ sở dữ liệu cần thiết giúp cho các nhà khoa học, nhà quản lý và người chăn nuôi định hướng trong việc sử dụng và phát triển giống gà này.Mục tiêu cụ thể - Xác định được khả năng sinh sản của gà giống Liên Minh, đảo Cát Hải, Hải Phòng. - Xác định được khả năng sản xuất thịt của gà thương phẩm và hiệu quả kinh tế nuôi gà Liên Minh thịt trong nông hộ. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU 2. Nguồn gốc và sự thuần hóa gia cầm Tất cả các giống gia cầm đã biết đều thuộc lớp chim (Aves), trong đó hầu hết đều thuộc nhóm chim bay (Carinatea), thuộc ba bộ Ngỗng vịt (Anserriformes), bộ Gà (Galliformes) và bộ Bồ câu (Columbiformes). Sự thuần hóa các loài chim hoang đã để trở thành các loài,giống gia cầm hiện nay đã trải qua hàng ngàn năm. Quá trình này đã làm biến đổi sâu sắc cả về ngoại hình cũng như khả năng sinh trưởng và sinh sản của chúng.
Có thể nói, với tác động của con người vào mục đích khai thác thịt và trứng của các loại gia cầm đã làm biến đổi các đặc điểm sinh học tự nhiên của chúng như tính bay, tính ấp trứng, sinh sản theo mùa v.v… sự biến đổi này nhằm thích nghi với điều kiện sống mới của mỗi loại gia cầm. với những giống địa phương, các bản năng tự nhiên này vẫn thể hiện mạnh hơn so với các giống mới tạo thành (Nguyễn Thị Mai và cs. Đặc điểm di truyền một số tính trạng sản xuất của gia cầm 2. Cơ sở di truyền của sinh trưởng Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), sinh trưởng là sự tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngan, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền từ đời trước.
Sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là protein, nên tốc độ và khối lượng tích lũy các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Định nghĩa sự sinh trưởng là tổng hợp quá trình tăng lên của các phần như da, thịt, xương (dẫn theo Chambers, 1990). Vì thế, người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Tuy nhiên, có khi tăng khối lượng không phải là tăng trưởng (ví như béo mỡ, chủ yếu là tích nước không có sự phát triển của mô cơ).
Sự tăng trưởng thực sự là các tế bào của mô cơ tăng thêm số lượng, kích thước và khối lượng. Số lượng và độ lớn của tế baò là nguyên nhân gây ra sự khác nhau về độ lớn của cơ thể. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tính trạng năng suất (trong đó có tốc độ sinh trưởng) là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường được. Trần Đình Miên và Nuyễn Văn Thiện (1995) cho biết, các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen hay còn gọi da gen (polygens).
Các gen này hoạt động theo 3 phương thức đó là sự cộng gộp; trôi, lặn và tương tác giữa các gen. Đề xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sự dụng khái niệm hệ số di truyền (h2). Theo Đặng Hữu Lanh (1995), hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình. Đặng Vũ Bình (2002) cho biết, người ta thường phân chia số di truyền thành 3 nhóm, hay nói cách khác là các tính trạng thường gặp có 3 mức khác nhau về hệ số di truyền: + Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (từ 0-0,2), thường bao gồm các tính trạng thuộc về sức sinh sản như tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống, số con đẻ ra trong 1 lứa, sản lượng trứng… + Các tính trạng có hệ số di truyền trung bình (từ 0,2 -0,4), bao gồm các tính trạng về tốc độ sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng… + Các tính trạng có hệ số di truyền cao (từ 0,4 trở lên), gồm các tính trạng thuộc về phần chất sản phẩm như khối lượng trứng, tỷ lệ mỡ sữa, tỷ lệ nạc trong thân thịt.
Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác nhau. Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn đề này. Nguyễn Huy Đạt và Nguyễn Thành Đồng (2001) nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất của bốn giống gà thịt thương phẩm (AA, Lohmann, ISA Vedete và Avian) nuôi trong cùng một điều kiện cho thấy, chỉ số sản xuất (PN) của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở bốn giống gà là khác nhau, tương ứng là 187,97: 215,33; 211,83 và 204,95. Như vậy gà broiler Lohmann và ISVwdette là cao nhất và thấp nhất là gà AA.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm như dòng, giống giới tính, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, chế độ dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh v.v… Theo Chambers (1990), có nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của gia cầm. Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ. Godfrey and Joap (1952) cho biết, sự di truyền các tính trạng về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia. Joap and Havey (1969) cho rằng kiểu di truyền về khối lượng cơ thể, do nhiều gen quy định, trong đó ít nhất có một cặp gen liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X), do đó dẵn đến sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa gà trống và gà mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái từ 24-32%.
Sự sai khác này biểu hiện cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do hóc môn sinh dục mà do các gen liên kết với giới tính. Các gen này ở con trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn ở con mái (1 nhiễm sắc thể giới tính). Nguyễn Mạnh Hùng và cs. Jop and Morris (1937) đã phát hiện ra những sai khác về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi ở gà con của các bố mẹ khác nhau trong cùng một giống.
Chamber (1984) đã tổng hợp hoàn chỉnh hệ số di truyền tương ứng khối lượng sống của gà 1, 2, 3, 6 tháng tuổi là: 0,33; 0,46; 0,44; 0,55 và gà trưởng thành là 0,43. Nguyễn Ân và cs. (1983) cho biết, hệ số di truyền của khối lượng gà 5 tháng tuổi là 0,43. Nhìn chung hệ số di truyền của khối lượng cơ thể biến động từ 0,26 -07.
Tốc độ mọc lông của gà có liên quan chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng. Các kết quả nghiên cứu đã xác định trong cùng một giống cùng tính biệt ở gà có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tộc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn. Theo Siegel and Dunmington (1978), những alen quy định mọc lông nhanh phù hợp với khả năng sinh trưởng cao. Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
+ Đầu: cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết. Theo hình dáng của mào, mào dưới và tích tai có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, ngược lại gà mái 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có ngoại hình giống gà trống sẽ cho năng suất sinh sản không cao, trứng thường không phôi + Mào và mào dưới thuộc về các đặc điểm sinh dục phụ, khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mò lớn chứa nhiều máu.