ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp rất phát triển, một trong số đó chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong nền nông nghiệp của nước ta.Về phần quan trọng và tính thiết yếu do nhu cầu tiêu dùng của xã hội thì chăn nuôi gia cầm chiếm vị trí quan trọng thứ hai (sau chăn nuôi lợn) trong ngành chăn nuôi tại Việt Nam. Bên cạnh đó cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế, yêu cầu của người tiêu dùng về số lượng và chất lượng thực phẩm nói chung và chất lượng thịt gà nói riêng ngày càng tăng. Thịt gà không những phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, chỉ tiêu dinh dưỡng chất lượng thịt mà còn phải đáp ứng được các yêu cầu về cảm quan như: thịt ngọt, chắc, thơm, ngon… Để đáp ứng được những yêu cầu này của người tiêu dùng, chăn nuôi gà lông màu và gà đặc sản trong những năm gần đây có xu hướng phát triển mạnh tại các tỉnh thành trong nước ta. Gà Liên Minh có phẩm chất thịt thơm ngon, lớp mỡ dưới da mỏng, da giòn hơn da gà Ri, thịt gà có vị ngọt, đậm, thơm đặc trưng; Gà Liên Minh thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng, khả năng đề kháng rất cao, được người dân Cát Hải coi đây là giống gà quý.
Dựa trên những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “ Sinh trưởng và phát triển của gà Liên Minh nuôi tại Hải Phòng ” 1. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của gà Liên Minh giai đoạn từ mới nở đến 18 tuần tuổi. YÊU CẦU ĐỀ TÀI -Đánh giá được tỉ lệ nuôi sống, sinh trưởng phát triển của gà Liên Minh -Đánh giá lượng thức ăn thu nhận theo dõi đầy đủ, ghi chép, thu thập số liệu liên quan về khả năng sinh trưởng của đàn gà Liên Minh nuôi tại Hải Phòng 1 PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC 2. Giới thiệu về giống gà Liên Minh Gà Liên Minh là giống gà quý của huyện đảo Cát Hải nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung. Nơi có địa hình đồi núi cao Gà Liên Minh là một sản phẩm đặc trưng tại đây thích hợp với nuôi chăn thả, chịu đựng tốt điều kiện thức ăn nghèo dinh dưỡng, khả năng đề kháng rất cao. Giống gà này có ngoại hình chân cao,lông vàng nhạt, mào đơn con trống nặng 4kg có con còn nặng tới 5kg trống, gà mái màu vàng rơm nặng trên 3kg, gà mái có năng suất trứng thấp chỉ khoảng 75 – 78 quả/mái/năm.
Là một trong những sản phẩm đặc trưng của đảo Cát Bà, là một trong mười tám đặc sản của Hải Phòng được chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Gà thịt thương phẩm ở 6 tuần tuổi nặng 603g, 20 tuần tuổi nặng 1700g. Như vậy gà Liên Minh cũng giống như một số giống gà nội khác, có năng suất trứng và tốc độ sinh trưởng rất thấp. Gà Liên Minh được đưa vào danh sách bảo tồn từ năm 2008.
Trước đó, theo tiêu chí đánh giá của FAO-2007, gà Liên Minh ở mức độ đe dọa nguy hiểm. Bên cạnh đó, việc chăn nuôi gà Liên Minh hoàn toàn theo hình thức nhỏ lẻ, chăn thả tự do trong những nông hộ chỉ của 1 thôn Liên Minh. Nông hộ tự chọn lọc và nhân giống trong mỗi gia đình nên không tránh khỏi hiện tượng cận huyết. Thông tin ban đầu về tình trạng giống và các chỉ tiêu sản xuất của giống gà Liên Minh cho thấy.
Về đặc điểm ngoại hình gà 01 ngày tuổi toàn thân màu vàng nhạt hoặc toàn thân vàng và ở lưng có vùng đen xám; gà trống trưởng thành có màu lông đỏ tía ở cổ, lưng và cánh, lông ở bụng màu vàng rơm, lông đuôi và một số lông ở cánh có màu đen ánh xanh, một số con vùng cổ tiếp giáp với thân được điểm thêm một số đốm đen; gà mái trưởng thành lông màu vàng rơm, lông đuôi và 2 một số lông cánh màu đen, một số con có đốm đen hoa mơ ở vùng cổ tiếp giáp với thân; gà Liên Minh có mỏ và da chân màu vàng, đặc biệt da chân có màu vàng đậm hơn so với các giống gà khác; gà Liên Minh có mào cờ, đến tuổi thành thục mào và tích của gà khá phát triển (Trịnh Phú Cử, 2012). Bùi Hữu Đoàn và cs., (2016) nghiên cứu trên 30 hộ tại xã Trân Châu, huyện Cát Hải đã chỉ ra rằng gà Liên Minh nuôi tại hộ theo phương thức chăn thả đẻ trứng ở 197,5 ngày tuổi tương ứng với khối lượng cơ thể 2,25kg/con, số lượng trứng 75,6 quả/mái/năm, khối lượng trứng trung bình 49,8g. Tác giả cũng cho biết, gà Liên Minh sinh sản ở độ tuổi khá cao từ 2-3 năm tuổi - đây cũng là một trong những lý do làm cho năng suất sinh sản của giống là thấp và khó phát triển rộng rãi ra sản xuất nếu tiếp tục nuôi theo tập quán truyền thống của địa phương. Theo báo cáo đánh giá sơ bộ nguồn gen gà Liên Minh của Trịnh Phú Cử và cs., (2012), khối lượng sơ sinh nặng trung bình 30,02 g/con; khối lượng lúc 6 tuần tuổi đạt 603,63 g/con; 20 tuần tuổi đạt trung bình 1.886,53g đối với con trống và 1.565,42g đối với con mái và đàn gà phát triển chưa đồng đều do chưa có sự chọn lọc.
Kích thước các chiều đo của gà Liên Minh ở 12 tuần tuổi: trung bình vòng ngực là 27,2 cm, dài lưng 21,3 cm, dài lườn 16,34 cm, dài đùi 22,24 cm, dài chân 10,63 cm. Kết quả ấp nở của gà đạt tỷ lệ ấp nở/tổng trứng vào ấp là 71% - cao hơn so với gà Mía (đạt 68%), gà Hồ (đạt 65%) và thấp hơn so với gà Ri (đạt 96-97%). Báo cáo cũng chỉ ra rằng khối lượng cơ thể gà Liên Minh ở giai đoạn 06 tuần tuổi lớn hơn so với gà Ri và nhỏ hơn gà Lương Phượng; khối lượng trứng gà Liên Minh ở 40 tuần tương đương với khối lượng trứng gà Lương Phượng hoa ở 28 tuần tuổi; kích thước các chiều đo dài chân, dài đùi của gà Liên Minh tương đương gà Kabir và dài hơn so với gà Lương Phượng. Trong giai đoạn 2013 - 2016, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng được Bộ KH&CN cho phép chủ trì thực hiện nhiệm vụ quỹ gen “Khai thác và phát triển giống gà Liên Minh tại Hải Phòng” do Ths.
Vũ Công Quý là chủ nhiệm. Kết quả, bước đầu nhiệm vụ đã đánh giá 3 được các đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống gà Liên Minh. Đồng thời đã tạo ra được đàn gà Liên Minh hạt nhân gồm 300 con, có năng suất cao hơn so với quần thể. Cụ thể, khi 8 tuần tuổi, gà trống tăng từ 708g lên 800 g, gà mái 553g lên 616g ở thế hệ 1.
Đến thế hệ thứ 2 có khối lượng 716g đối với con trống, và 605 g đối với con mái. Đến thế hệ thứ 3 có khối lượng 723g đối với con trống, và 617 g đối với con mái. Ở 20 tuần tuổi: gà trống 1650g lên 1. Đến thế hệ thứ 2 có khối lượng 1972g đối với con trống, và 1704g đối với con mái.
Tuổi vào đẻ của gà giảm từ 26 tuần tuổi xuống 24 tuần tuổi; năng suất trứng trung bình tăng từ 75 lên 90 quả/48 tuần đẻ. Gà thương phẩm ở 8 tuần tuôi có khối lượng trung bình 595g (gà trống 727 g, gà mái 663g); 18 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống là 94,29% - 97,43%, khối lượng cơ thể là 1,815 - 1,99 kg/con (bình quân trống - mái là 1,91kg/con), mức tiêu tốn thức ăn là 3,63 - 3,94 kg thức ăn/kg tăng KLCT. TỈ LỆ NUÔI SỐNG Tỷ lệ nuôi sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở cuối kỳ so với các cá thể ở đầu kỳ, là chỉ tiêu đánh giá khả năng thích nghi của vật nuôi đối với điều kiện ngoại cảnh, có ý nghĩa lớn đối với những giống được chuyển từ vùng này sang vùng khác hoặc giống mới được hình thành., tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá sức sống của gia cầm, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết qua các giai đoạn sinh trưởng (nguyễn chí bảo dịch, 1978). Khavecman (1972) cho rằng, cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ nuôi sống.
Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng việc chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, vệ sinh, tiêm phòng kịp thời. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi xứ ôn đới (Trần Đình Miên và cs. Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống của 4 gà còn phụ thuộc vào sức sống của đàn bố mẹ, gà mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gà con sẽ cao hơn so với gà mái đẻ kém. Theo Đào Đức Long (2002), sức khỏe của gà tốt làm tăng khả năng sản xuất, tạo ra đời sau khỏe mạnh có sức sản xuất cao.
Sức khỏe của gà phụ thuộc vào cá thể, được quyết định bởi tính di truyền và chịu ảnh hưởng bởi ngoại cảnh. Chọn lọc được gà khỏe mạnh sẽ nâng cao tỷ lệ nuôi sống ở đời sau. Gia cầm sau khi nở một thời gian có tỷ lệ chết cao là do chúng chịu tác động của môi trường sống mới, quá trình phát triển phôi kém, kỹ thuật ấp không đúng, do con mẹ được nuôi dưỡng không đầy đủ hoặc có bệnh ảnh hưởng đến phôi, cũng có thể do những gen gây chết làm cho chúng chết ngay thời kỳ ấp cuối hoặc lúc mới nở (Đào Đức Long, 2002). Gia cầm nội có tỷ lệ nuôi sống thường cao hơn gia cầm nhập nội.
Gia cầm nội chịu đựng tốt với điều kiện thời tiết, khí hậu địa phương, chống chịu được một số bệnh, sinh sống bình thường trong điều kiện nuôi dưỡng thấp hơn hoặc ít bị ảnh hưởng đến sức sống, khả năng sản xuất (Đào Đức Long, 2002). Theo Lê Viết Ly (1995), động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp. KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước tế bào (Hypertrophy), số lượng tế bào (Hyperplasin) và dịch thể tế bào (Widdwson, 1980) (dẫn theo Chamber, 1990), (Campbell John và Lasley, 1969).