Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dược liệu và thuốc cổ truyền tại Việt Nam đang ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ với nhu cầu tiêu thụ ước tính khoảng 60.000 tấn dược liệu mỗi năm. Tuy nhiên, theo báo cáo của Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền, có tới 80% đến 85% nguồn dược liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó chỉ khoảng 1.400 tấn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Tình trạng dược liệu kém chất lượng, bị làm giả hoặc xử lý bằng hóa chất bảo quản không rõ nguồn gốc đang đe dọa trực tiếp đến an toàn sức khỏe người bệnh. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách đối với hệ thống kiểm nghiệm nhà nước tuyến tỉnh trong việc kiểm soát toàn diện chất lượng thuốc y học cổ truyền lưu hành trên địa bàn.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng cơ cấu mẫu và phân tích chuyên sâu khả năng kiểm nghiệm vị thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu tại Trung tâm Kiểm nghiệm tỉnh Bắc Ninh trong năm 2020. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 241 hồ sơ kiểm nghiệm thực tế (gồm 43 mẫu vị thuốc cổ truyền và 198 mẫu thuốc dược liệu) trên địa bàn 8 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc đo lường chính xác tỷ lệ hoàn thành các chỉ tiêu kỹ thuật, chỉ ra các khoảng trống năng lực phân tích so với tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V. Đây là cơ sở khoa học then chốt giúp các nhà quản lý y tế tại Bắc Ninh xây dựng lộ trình đầu tư trang thiết bị, hoàn thiện hệ thống Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP) và tối ưu hóa năng lực giám sát dược phẩm tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các nguyên tắc quản trị chất lượng dược phẩm hiện hành của ngành Y tế Việt Nam. Khung pháp lý cốt lõi bao gồm Luật Dược số 105/2016/QH13, Thông tư số 11/2018/TT-BYT quy định về chất lượng thuốc và nguyên liệu làm thuốc, Thông tư số 13/2018/TT-BYT quy định về chất lượng dược liệu và thuốc cổ truyền, cùng hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia Dược điển Việt Nam V ban hành năm 2018 với 1.519 chuyên luận kỹ thuật.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp nguyên tắc quản trị phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 và hướng dẫn Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP) do Tổ chức Y tế Thế giới ban hành. Ba khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  1. Vị thuốc cổ truyền: Dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp y học cổ truyền dùng để phòng và chữa bệnh.
  2. Thuốc dược liệu: Chế phẩm thuốc có thành phần từ dược liệu với tác dụng điều trị dựa trên bằng chứng khoa học.
  3. Tiêu chuẩn chất lượng: Văn bản kỹ thuật quy định các mức chất lượng, chỉ tiêu và phương pháp kiểm nghiệm bắt buộc (theo Dược điển hoặc Tiêu chuẩn cơ sở).

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu toàn bộ hồ sơ dữ liệu kiểm nghiệm sẵn có tại Trung tâm Kiểm nghiệm tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 241 hồ sơ kiểm nghiệm vị thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu được lấy mẫu trên địa bàn tỉnh trong năm 2020, bao gồm 43 mẫu vị thuốc cổ truyền và 198 mẫu thuốc dược liệu. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối, phản ánh chính xác toàn bộ hoạt động kiểm nghiệm thực tế của đơn vị mà không bị sai số do chọn mẫu ngẫu nhiên.

Hệ thống biến số gồm 13 biến phân loại và định lượng, được thu thập thông qua 3 bộ biểu mẫu chuyên biệt: thông tin hành chính, danh mục chỉ tiêu thử nghiệm của thuốc dược liệu và danh mục chỉ tiêu thử nghiệm của vị thuốc cổ truyền. Dữ liệu được mã hóa, làm sạch và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2010. Phương pháp tính toán tỷ lệ phần trăm được lựa chọn để lượng hóa cụ thể mức độ đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật và xác định các nguyên nhân cốt lõi cản trở năng lực kiểm nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu thực hiện kế hoạch, Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu lấy mẫu được giao trong năm 2020. Tổng số mẫu vị thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu thực hiện đạt 241 mẫu trên chỉ tiêu 200 mẫu, đạt tỷ lệ 120,5%. Tuy nhiên, mẫu kiểm nghiệm có sự phân bố không đồng đều: 81,4% vị thuốc cổ truyền và 100% thuốc dược liệu là sản phẩm sản xuất trong nước; nguồn nhập khẩu chỉ chiếm 7,0% ở vị thuốc cổ truyền và 0% ở thuốc dược liệu. Về dạng bào chế, viên nén chiếm ưu thế với 51,5% (102 mẫu) và viên nang chiếm 33,3% (66 mẫu).

Thứ hai, địa bàn lấy mẫu tập trung mật độ cao tại thành phố Bắc Ninh với 97 mẫu (chiếm 40,2%) và thị xã Từ Sơn với 30 mẫu (chiếm 12,5%), trong khi 5 huyện (Tiên Du, Thuận Thành, Quế Võ, Gia Bình, Lương Tài) hoàn toàn không có mẫu vị thuốc cổ truyền nào được lấy để kiểm tra. Xét theo loại hình cơ sở, 43,6% mẫu được thu thập từ nhà thuốc tư nhân và 19,1% từ trung tâm y tế. Đáng chú ý, tỷ lệ mẫu kiểm nghiệm so với danh mục trúng thầu của Sở Y tế còn rất thấp, chỉ đạt 13,8% đối với vị thuốc cổ truyền (19/138 vị thuốc) và 25,7% đối với thuốc dược liệu (19/74 mặt hàng).

Thứ ba, năng lực kiểm nghiệm toàn diện các chỉ tiêu kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ mẫu được kiểm nghiệm đủ 100% chỉ tiêu theo tiêu chuẩn đăng ký chỉ đạt 24,9% (60/241 mẫu). Tỷ lệ không làm đủ chỉ tiêu ở vị thuốc cổ truyền lên tới 83,7% (36/43 mẫu) và ở thuốc dược liệu là 73,2% (145/198 mẫu). Toàn bộ 23 mẫu áp dụng tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V đều không thể thực hiện đủ chỉ tiêu (tỷ lệ thiếu chỉ tiêu 100%), trong khi 14 mẫu áp dụng Dược điển Việt Nam IV đạt tỷ lệ đủ chỉ tiêu 100%.

Thứ tư, sự thiếu hụt năng lực tập trung chủ yếu ở các kỹ thuật phân tích hiện đại. Phép thử định tính bằng HPLC đạt tỷ lệ thực hiện 0% (0/66 chỉ tiêu), định tính bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) không thực hiện được 26/38 chỉ tiêu ở vị thuốc cổ truyền (chiếm 68,4%). Đối với định lượng hoạt chất, 100% chỉ tiêu định lượng bằng HPLC ở vị thuốc cổ truyền (18/18) và thuốc dược liệu (79/79) đều không thể triển khai. Tương tự, các chỉ tiêu an toàn bắt buộc như giới hạn kim loại nặng (4/4 chỉ tiêu), giới hạn chất bảo quản (66/66 chỉ tiêu) và độc tính bất thường (20/20 chỉ tiêu) đều chưa thể thực hiện.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích sâu các nguyên nhân kỹ thuật, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ Pareto để chỉ rõ các rào cản chính. Trong tổng số 311 chỉ tiêu thuốc dược liệu không thực hiện được, nguyên nhân do thiếu trang thiết bị máy móc chiếm tới 62,4% (194 chỉ tiêu), tiếp theo là do thiếu chất chuẩn và dược liệu chuẩn đối chiếu chiếm 31,5% (98 chỉ tiêu), và do thiếu hóa chất thử nghiệm chiếm 6,1% (19 chỉ tiêu). Đối với vị thuốc cổ truyền, nguyên nhân thiếu chất chuẩn chiếm 48,2% (26 chỉ tiêu) và thiếu thiết bị chiếm 40,7% (22 chỉ tiêu).

Khoa Đông dược - Dược liệu của Trung tâm hiện có 8 cán bộ chuyên trách, tuy nhiên cơ sở hạ tầng thiết bị phân tích đã vận hành trên 10 năm, hệ thống sắc ký lỏng HPLC bị hư hỏng và chưa có khu chăn nuôi động vật thí nghiệm. So sánh với các tỉnh lân cận trong cùng giai đoạn, tỷ lệ kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu của Bắc Ninh (24,9%) thấp hơn đáng kể so với Trung tâm Kiểm nghiệm tỉnh Sơn La năm 2018 (đạt 93,2%) và tỉnh Hải Dương năm 2018 (đạt 60,5%), nhưng phản ánh đúng thách thức chung của tuyến tỉnh khi chuyển giao áp dụng các chuyên luận kỹ thuật cao của Dược điển Việt Nam V.

Việc thiếu hụt chất chuẩn của các hoạt chất phổ biến như Acid clorogenic, Phyllanthin, Dihydromycetin hay các dược liệu chuẩn như Đẳng sâm, Kê huyết đằng, Ngưu tất khiến đơn vị chỉ dừng lại ở các phép thử hóa học đơn giản và cảm quan soi bột, tạo ra khoảng trống giám sát lớn đối với chất lượng dược liệu trôi nổi trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực kiểm nghiệm và kiểm soát chặt chẽ chất lượng thuốc y học cổ truyền trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo, các giải pháp mang tính hành động cụ thể được đề xuất như sau:

  1. Hiện đại hóa đồng bộ hệ thống trang thiết bị phân tích: Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm nghiệm cần phối hợp với Sở Y tế Bắc Ninh lập đề án trình Ủy ban nhân dân tỉnh cấp kinh phí đầu tư mới hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) tích hợp đầu dò tự động, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và máy cất tinh dầu chuyên dụng trong giai đoạn 2022-2024. Mục tiêu là nâng tỷ lệ thực hiện chỉ tiêu định lượng hoạt chất bằng HPLC đạt tối thiểu 75% vào năm 2024.

  2. Thiết lập quỹ dược liệu chuẩn và chất chuẩn đối chiếu: Khoa Đông dược - Dược liệu định kỳ hàng năm xây dựng kế hoạch dự trù kinh phí để mua sắm chất chuẩn tinh khiết (Phyllanthin, Acid clorogenic) và ít nhất 20 loại dược liệu chuẩn đối chiếu từ Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương. Mục tiêu nâng tỷ lệ đáp ứng chỉ tiêu định tính bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) lên trên 85% từ năm 2023.

  3. Đầu tư cơ sở hạ tầng đạt chuẩn GLP: Trung tâm cần triển khai cải tạo khu vực phòng thí nghiệm theo nguyên tắc Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP), thiết kế khu vực thử nghiệm sinh học - vi sinh đạt chuẩn và xây dựng khu nuôi động vật thử nghiệm độc tính bất thường trước năm 2025.

  4. Tái cấu trúc quy trình giám sát và lấy mẫu địa bàn: Khoa Kiểm tra chất lượng cần mở rộng kế hoạch lấy mẫu định kỳ tại 5 huyện vùng ven còn trống dữ liệu kiểm nghiệm vị thuốc cổ truyền, tăng cường giám sát tại các phòng chẩn trị y học cổ truyền tư nhân và nâng tỷ lệ lấy mẫu kiểm tra đạt ít nhất 50% danh mục thuốc trúng thầu của Sở Y tế hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả phân tích trong luận văn mang lại giá trị tham khảo thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý dược và lãnh đạo Sở Y tế: Tài liệu cung cấp bức tranh toàn cảnh về năng lực giám sát chất lượng thuốc thực tế tại địa phương, làm cơ sở khoa học để phê duyệt danh mục đầu tư công, phân bổ ngân sách trang thiết bị kiểm nghiệm và chỉ đạo công tác đấu thầu dược liệu an toàn.

  2. Lãnh đạo và kiểm nghiệm viên các Trung tâm Kiểm nghiệm tuyến tỉnh: Cung cấp phương pháp luận chi tiết trong việc đánh giá khoảng trống kỹ thuật của phòng thí nghiệm, hỗ trợ xây dựng danh mục chất chuẩn cần ưu tiên và xây dựng lộ trình đạt chứng nhận ISO/IEC 17025 hoặc GLP.

  3. Cơ sở sản xuất, kinh doanh và bệnh viện y học cổ truyền: Giúp các dược sĩ phụ trách bảo đảm chất lượng nhận diện các lỗi phổ biến trong hồ sơ tiêu chuẩn cơ sở (TCCS), từ đó hoàn thiện phương pháp kiểm nghiệm nội bộ và kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào.

  4. Học viên sau đại học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Dược: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về mô hình nghiên cứu cắt ngang hồi cứu hồ sơ kiểm nghiệm, phương pháp thiết kế bộ biến số và kỹ thuật xử lý dữ liệu kiểm nghiệm thực tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tỷ lệ mẫu kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu kỹ thuật tại Bắc Ninh năm 2020 chỉ đạt 24,9%?
    Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu hụt đồng thời các máy móc phân tích chuyên sâu (đặc biệt là máy HPLC bị hỏng) và việc thiếu các chất chuẩn, dược liệu đối chiếu được cấp phép, dẫn đến việc không thể thực hiện các chỉ tiêu định lượng, định tính sắc ký và kiểm tra an toàn theo hồ sơ tiêu chuẩn.

  2. Dược điển Việt Nam V đặt ra thách thức cụ thể nào cho công tác kiểm nghiệm tuyến tỉnh?
    Dược điển Việt Nam V quy định bổ sung nhiều chuyên luận kỹ thuật mới với yêu cầu định lượng hoạt chất bắt buộc bằng HPLC và kiểm soát chặt chẽ giới hạn kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật. Các trung tâm tuyến tỉnh nếu chưa kịp nâng cấp trang thiết bị và mua sắm chất chuẩn sẽ không thể hoàn thành đủ chỉ tiêu thử nghiệm.

  3. Những chỉ tiêu thử nghiệm nào bị bỏ sót nhiều nhất trong quá trình kiểm nghiệm?
    Các chỉ tiêu bị bỏ trống 100% bao gồm định lượng bằng phương pháp HPLC (79 chỉ tiêu thuốc dược liệu, 18 chỉ tiêu vị thuốc cổ truyền), định tính hoạt chất bằng HPLC (66 chỉ tiêu), thử độc tính bất thường (20 chỉ tiêu) và kiểm tra giới hạn chất bảo quản (66 chỉ tiêu).

  4. Tại sao công tác lấy mẫu kiểm nghiệm lại tập trung chủ yếu tại thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn?
    Khu vực đô thị tập trung phần lớn các cơ sở kinh doanh dược, công ty phân phối và các bệnh viện tuyến tỉnh. Tuy nhiên, điều này cũng phản ánh hạn chế về nguồn lực di chuyển và mạng lưới giám sát tại các huyện vùng xa, nơi nguy cơ lưu hành dược liệu không rõ nguồn gốc còn cao.

  5. Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh cần điều kiện tiên quyết nào để đạt chuẩn GLP theo quy định?
    Đơn vị cần hoàn thiện 3 yếu tố cốt lõi: trang bị mới hệ thống máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC, xây dựng phòng thử nghiệm an toàn sinh học đạt chuẩn để nuôi động vật thí nghiệm, và chuẩn hóa hệ thống quản trị chất lượng cùng hồ sơ thẩm định phương pháp theo Thông tư 13/2018/TT-BYT.

Kết luận

  • Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh đã hoàn thành vượt mức kế hoạch lấy mẫu năm 2020 với 241 mẫu (đạt 120,5%), nhưng cơ cấu phân bố còn mất cân đối giữa các địa bàn và nguồn gốc mẫu.
  • Năng lực kiểm nghiệm toàn diện còn hạn chế khi chỉ có 24,9% số mẫu được kiểm nghiệm đầy đủ chỉ tiêu kỹ thuật theo tiêu chuẩn công bố.
  • Điểm nghẽn kỹ thuật nghiêm trọng nhất nằm ở các phép thử hiện đại: 100% các chỉ tiêu định lượng HPLC, giới hạn kim loại nặng, chất bảo quản và độc tính bất thường chưa thể triển khai.
  • Thiếu hụt trang thiết bị máy móc chuyên dụng (chiếm 62,4%) và thiếu chất chuẩn, dược liệu chuẩn đối chiếu (chiếm 48,2%) là hai nguyên nhân then chốt dẫn đến việc bỏ sót chỉ tiêu.
  • Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng, tạo tiền đề xây dựng lộ trình đầu tư trang thiết bị và hoàn thiện hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn GLP giai đoạn 2022-2025.

Các nhà quản lý y tế, đơn vị kiểm nghiệm và chuyên gia nghiên cứu chính sách dược có thể khai thác toàn bộ dữ liệu phân tích chi tiết trong luận văn để phục vụ công tác quy hoạch nguồn lực và nâng cao chất lượng dược liệu phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.