ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trải qua khủng hoảng về dịch bệnh, ngành chăn nuôi lợn đang được chú ý hơn cả. Đầu năm 2021, tổng đàn lợn nước ta đạt 22.091 con trong đó lợn nái đạt 3.817 con so với đầu năm 2020 là 20.526 con trong đó lợn nái là 2.353 con (Thống kê chăn nuôi 1. Trong quý I năm 2022, đàn lợn cả nước tiếp tục đà hồi phục, dịch tả lợn châu Phi đang được kiểm soát.
Tổng đàn vật nuôi và sản lượng sản xuất tại các doanh nghiệp, trang trại, hộ chăn nuôi đang dần ổn định, đặc biệt là các đơn vị chủ động được nguồn con giống, liên kết tiêu thụ sản phẩm đầu ra, đảm bảo vệ sinh, an toàn sinh học. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 3 năm 2022 tăng khoảng 4,2% so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I năm 2022 ước đạt 1041,6 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2021. Để có thể tăng nhanh tổng sản lượng thịt và nâng cao chất lượng thịt phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, cải tiến chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, điều kiện chuồng trại,… thì việc tạo ra những tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm tốt của mỗi giống và sử dụng triệt để ưu thế lai của chúng là rất cần thiết. Ở nước ta nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng làm nguyên liệu như: Yorkshire (Y), Landrace (L), Duroc (D), Pietrain (Pi),… để tạo các tổ hợp lai YL, LY, D(YL), PiY,… nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng, giảm chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng, nâng cao tỷ lệ và chất lượng thịt.
Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp trọng điểm nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng. Trên địa bàn của tỉnh có rất nhiều trang trại chăn nuôi, đặc biệt là chăn 1 nuôi lợn đã được xây dựng và phát triển với quy mô lớn nhằm góp phần nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện thì việc nghiên cứu các công thức lai nhằm xác định những cặp lai phù hợp là cần thiết đối với sản xuất hiện nay, đặc biệt là phát triển chăn nuôi lợn ngoại ở các trang trại chăn nuôi trong toàn tỉnh. Bên cạnh đó, trên thực tế, sau sự bùng phát của dịch tả lợn châu Phi, một số cơ sở sản xuất đã giữ lại những con lợn sống sót để làm giống.
Xuất phát từ cơ sở thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khả năng cho thịt của đàn lợn Duroc x (Landrace x Yorkshire) nuôi tại Văn Lâm, Hưng Yên” 1. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1. Mục đích Mục đích chung Đánh giá được khả năng cho thịt của đàn lợn Duroc x (Landrace x Yorkshire) được sinh ra từ lợn bố mẹ sống sót sau dịch tả lợn châu Phi nuôi tại Văn Lâm, Hưng Yên. Mục đích cụ thể Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng của đàn lợn Duroc x (Landrace x Yorkshire) được nuôi tại Văn Lâm, Hưng Yên Đánh giá khả năng cho thịt của đàn lợn Duroc x (Landrace x Yorkshire) được nuôi tại Văn Lâm, Hưng Yên Đánh giá chất lượng thịt của đàn lợn Duroc x (Landrace x Yorkshire) được nuôi tại Văn Lâm, Hưng Yên 1.
Yêu cầu Tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vệ sinh, nuôi dưỡng, chăm sóc, công tác thú y đặc biệt là quy trình đảm bảo an toàn sinh học của trang trại Tiến hành theo dõi, thu thập đầy đủ và chính xác các dữ liệu điều tra liên quan tới khả năng cho thịt của đàn lợn Duroc x (Landrace x Yorkshire) 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.LAI GIỐNG VÀ ƯU THẾ LAI 2. Lai giống Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lại khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Nguyễn Hải Quân & cs.
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên. Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc. Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định. Ưu thế lai Ưu thế lai là từ ngữ biểu thị sức sống của con lai vượt trội hơn cha mẹ.
Thuật ngữ ưu thế lai được nhà di truyền học người Mỹ Shull (1914) đưa ra và được Snell (1961) thảo luận trong nhân giống (Nguyễn Hải Quân & cs., 1995) như sau: Ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con so với trung bình của đời bố mẹ. Có thể ưu thế lai là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng lợi dụng thức ăn tốt. Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống (Falconer, 1993). Có thể giải thích ưu thế lai bằng các giả thuyết sau: 3 - Thuyết trội: giả thuyết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp tử khác nhau.
Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus. Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và mẹ có kiểu gen aabbccDDEEFF thì thế hệ F1 có kiểu gen là AaBbCcDdEeFf. Do tính trạng số lượng được quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất xuất hiện một kiểu gen đồng hợp hoàn toàn là thấp. Ngoài ra vì sự liên kết giữa các gen trội và gen lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp được kiểu gen tốt nhất cũng thấp.
Jones (1917) đã chứng minh được hiện tượng này và thuyết trội đã được bổ sung thông qua giả thuyết sự liên kết của các gen. - Thuyết siêu trội: mỗi alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng riêng của mình. Ở trạng thái dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời được biểu lộ. Mỗi gen có khả năng tổng hợp riêng, quá trình này được thực hiện trong những môi trường khác nhau.
Do vậy kiểu gen dị hợp tử sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường. Ưu thế lai có thể do hiện tượng siêu trội của một locus, hiện tượng trội tổ hợp nhiều lucus hoặc do các nguyên nhân khác gây ra. Khả năng thích ứng với môi trường của các thể dị hợp tử tạo nên hiện tượng siêu trộm là cơ sở của ưu thế lai. - Tương tác gen: tương tác gen trong cùng một locus dẫn tới hiện tượng trội không hoàn toàn.
Tương tác giữa các gen trong cùng các locus khác nhau, bao gồm vô số các kiểu tương tác phức tạp, đa dạng phù hợp với tính chất phức tạp, đa dạng của sinh vật. Cơ sở thống kê của ưu thế lai Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964. Ưu thế lai ở F1: HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa 2 quần thể bố, mẹ. Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: HF1 = ∑ 𝑑𝑦 2.
Như vậy ưu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và sự khác biệt giữa hai quần thể. 4 Cơ sở thống kê này cho phép tính toán được ưu thế lai ở các thế hệ lai khác 1 1 nhau. Ưu thế lai ở F2: HF2 = dy2, do đó HF2 = HF1. 2 2 Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được gọi là hiện tượng suy hóa cận huyết.
Theo Falconer (1993), ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ. Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu do kiểu huyền mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con. Ảnh hưởng của mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh. Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá trình thụ tinh, mang thai, tiết sữa và nuôi con.
Các ảnh hưởng này được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau. Theo Đặng Vũ Bình (2002) có 5 ảnh hưởng của mẹ: Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân. Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân. Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ.
Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con. Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh. Theo Dickerson (1974), khi lai giữa hai giống còn lại chỉ có ưu thế lai cá thể. Khi lại ba giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lại, con lại có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1.
Nếu dùng đực lai giao phối với núi của giống thứ ba, con lại có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1. Trong lại bốn giống, con lại có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố. Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai Tổ hợp lai Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi tổ hợp lai. Theo Trần Đình Miên & cs.
(1994), mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể. Theo 5 Trần Kim Anh (2000), ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con. Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa. Ưu thế lại của bố thể hiện tính hàng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thu thai.