Luận án tiến sĩ kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại tuyến xã huyện quan hóa tỉnh thanh hóa năm 2015 2017

Luận án tiến sĩ phân tích mô hình thí điểm điều trị nghiện thuốc phiện bằng methadone tại huyện Quan Hóa, Thanh Hóa giai đoạn 2015-2017.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

199
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Chất gây nghiện và chất ma tuý

1.2. Chất dạng thuốc phiện (CDTP)

1.3. Khái niệm về nghiện chất và ngƣời nghiện CDTP

1.4. Cai nghiện

1.5. Hội chứng cai và tái nghiện

1.6. Điều trị thay thế Methadone và cơ sở điều trị Methadone

1.7. Tuân thủ điều trị Methadone

1.8. Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý

1.9. Vi phạm pháp luật

1.10. Chất lƣợng cuộc sống

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

2.1.2. Đối tƣợng nghiên cứu

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Mẫu nghiên cứu

2.2.3. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.4. Phƣơng pháp thu thập số liệu và công cụ nghiên cứu

2.2.5. Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu

2.2.6. Đạo đức trong nghiên cứu

2.2.7. Các biện pháp khống chế sai số

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ Ở NGƢỜI NGHIỆN MA TUÝ TRƢỚC KHI THAM GIA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015-2017)

3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu, xã hội, việc làm của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.2. Thực trạng sử dụng ma túy trƣớc khi tham gia điều trị Methadone

3.1.3. Hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.4. Kết quả xét nghiệm trƣớc khi điều trị Methadone

3.1.5. Tình trạng sức khỏe của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.6. Chất lƣợng cuộc sống và sự hài lòng về sức khỏe

3.1.7. Đặc điểm liên quan đến tiếp cận với dịch vụ y tế tại trạm y tế

3.2. KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015-2017)

3.2.1. Tình trạng tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng điều trị Methadone

3.2.2. Kết quả về giảm sử dụng ma tuý của đối tƣợng nghiên cứu

3.2.3. Kết quả về giảm các hành vi nguy cơ, dự phòng lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C của đối tƣợng nghiên cứu

3.2.4. Kết quả về tăng sự tiếp cận xét nghiệm HIV và điều trị ARV

3.2.5. Kết quả đạt đƣợc về làm giảm phạm tộivà bạo lực gia đình

3.2.6. Kết quả về thay đổi khả năng lao động và thu nhập của bệnh nhân

3.2.7. Kết quả về thay đổi sức khỏe và thay đổi chất lƣợng cuộc sống

3.2.8. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả điều trị Methadone tại xã Thành Sơn và Trung Sơn

3.3. Thuận lợi, khó khăncủa mô hình điều trị Methadone tại trạm y tế

3.4. Tính phù hợp và khả năng duy trì của mô hình

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ CỦA BỆNH NHÂN TRƢỚC KHI THAM GIA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015-2017)

4.1. Đặc điểm của ngƣời nghiện ma tuý tại hai xã Thành Sơn và Trung Sơn

4.2. Thực trạng sử dụng ma tuý, cai nghiện và tái nghiện của đối tƣợng nghiên cứu

4.3. Hành vi nguy cơ và kết quả xét nghiệm của đối tƣợng nghiên cứu

4.4. Tình trạng sức khỏe và chất lƣợng cuộc sống của đối tƣợng nghiên cứu

4.5. Thực trạng tiếp cận, sử dụng dịch vụ can thiệp giảm hại và y tế

4.6. KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015 – 2017)

4.6.1. Tình hình bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng

4.6.2. Kết quả đạt đƣợc về giảm sử dụng ma túy

4.6.3. Kết quả giảm hành vi nguy cơ và dự phòng lây nhiễm HIV, VGB, VG C

4.6.4. Kết quả làm giảm phạm tội trong đối tƣợng tham gia điều trị

4.6.5. Kết quả làm tăng khả năng lao động, cơ hội có việc làm và kinh tế

4.6.6. Kết quả cải thiện về sức khỏe tâm thần, thể chất, quan hệ tình dục và thay đổi chất lƣợng cuộc sống

4.6.7. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả điều trị Methadone tại trạm y tế xã

4.6.8. Tính phù hợp, hạn chế và khả năng duy trì của mô hình

4.7. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone tại huyện Quan Hóa

Mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone đã được triển khai tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2015 đến 2017. Mô hình này nhằm mục đích giảm thiểu tác động tiêu cực của việc sử dụng chất dạng thuốc phiện (CDTP) và cải thiện sức khỏe cho người nghiện. Methadone là một loại thuốc được sử dụng để điều trị nghiện, giúp giảm cơn thèm thuốc và ngăn ngừa tái nghiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình này đã mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là trong việc giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghiện.

1.1. Tình hình nghiện opioid tại huyện Quan Hóa trước khi triển khai mô hình

Trước khi mô hình điều trị được triển khai, huyện Quan Hóa đã ghi nhận một tỷ lệ cao người nghiện opioid. Theo thống kê, có khoảng 700 người nghiện ma túy, trong đó phần lớn là người dân tộc thiểu số. Tình trạng này đã gây ra nhiều vấn đề xã hội và sức khỏe, bao gồm lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác.

1.2. Lợi ích của mô hình điều trị methadone

Mô hình điều trị methadone không chỉ giúp giảm thiểu việc sử dụng ma túy bất hợp pháp mà còn cải thiện sức khỏe tâm thần và thể chất cho người nghiện. Nghiên cứu cho thấy, sau khi tham gia điều trị, tỷ lệ người nghiện tái sử dụng ma túy giảm đáng kể, đồng thời tỷ lệ lây nhiễm HIV cũng giảm xuống.

II. Những thách thức trong việc triển khai mô hình điều trị methadone

Mặc dù mô hình điều trị methadone đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình triển khai. Các vấn đề như khoảng cách địa lý, thiếu nhân lực y tế và sự kỳ thị xã hội đối với người nghiện vẫn tồn tại. Những thách thức này cần được giải quyết để đảm bảo tính bền vững của mô hình.

2.1. Khoảng cách địa lý và khó khăn trong tiếp cận dịch vụ

Nhiều người nghiện sống ở vùng sâu, vùng xa, cách xa cơ sở điều trị. Điều này khiến họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ điều trị methadone, dẫn đến tỷ lệ bỏ điều trị cao.

2.2. Sự kỳ thị xã hội đối với người nghiện

Người nghiện thường phải đối mặt với sự kỳ thị từ cộng đồng, điều này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của họ mà còn làm giảm khả năng tham gia vào các chương trình điều trị. Cần có các chiến dịch nâng cao nhận thức để giảm thiểu sự kỳ thị này.

III. Phương pháp điều trị và quy trình thực hiện mô hình methadone

Mô hình điều trị methadone tại huyện Quan Hóa được thực hiện theo quy trình chuẩn, bao gồm việc đánh giá tình trạng sức khỏe của người nghiện, cấp phát thuốc methadone và theo dõi sức khỏe định kỳ. Phương pháp này giúp đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho người bệnh.

3.1. Quy trình cấp phát thuốc methadone

Quy trình cấp phát thuốc methadone được thực hiện tại các trạm y tế xã, giúp người nghiện dễ dàng tiếp cận dịch vụ. Mỗi bệnh nhân sẽ được theo dõi và điều chỉnh liều lượng thuốc phù hợp với tình trạng sức khỏe của họ.

3.2. Theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị

Việc theo dõi sức khỏe định kỳ giúp đánh giá hiệu quả của mô hình điều trị. Các chỉ số như tỷ lệ tái nghiện, sức khỏe tâm thần và thể chất của người bệnh sẽ được ghi nhận và phân tích để cải thiện quy trình điều trị.

IV. Kết quả nghiên cứu về mô hình điều trị methadone tại huyện Quan Hóa

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình điều trị methadone đã đạt được nhiều thành công trong việc giảm tỷ lệ sử dụng ma túy và cải thiện sức khỏe cho người nghiện. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sau 24 tháng điều trị, tỷ lệ người nghiện tái sử dụng ma túy giảm xuống dưới 15%.

4.1. Tác động đến tỷ lệ tái nghiện

Mô hình điều trị đã giúp giảm tỷ lệ tái nghiện xuống còn 12,4% sau 24 tháng. Điều này cho thấy hiệu quả của methadone trong việc kiểm soát cơn thèm thuốc và ngăn ngừa tái nghiện.

4.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghiện

Người tham gia điều trị methadone đã báo cáo sự cải thiện rõ rệt về chất lượng cuộc sống, bao gồm sức khỏe thể chất, tâm thần và khả năng lao động. Điều này cho thấy mô hình không chỉ giúp giảm nghiện mà còn nâng cao đời sống cho người bệnh.

V. Kết luận và hướng phát triển mô hình điều trị methadone trong tương lai

Mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone tại huyện Quan Hóa đã chứng minh được tính hiệu quả và cần được mở rộng. Để đảm bảo tính bền vững, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội trong việc nâng cao nhận thức và giảm thiểu kỳ thị đối với người nghiện.

5.1. Đề xuất mở rộng mô hình điều trị

Cần xem xét mở rộng mô hình điều trị methadone đến các xã khác trong huyện và các tỉnh lân cận. Điều này sẽ giúp nhiều người nghiện có cơ hội tiếp cận dịch vụ điều trị hơn.

5.2. Tăng cường hỗ trợ từ cộng đồng

Cần có các chương trình hỗ trợ từ cộng đồng để giúp người nghiện tái hòa nhập xã hội. Các hoạt động như đào tạo nghề, tư vấn tâm lý sẽ giúp họ có cơ hội làm lại cuộc đời.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại tuyến xã huyện quan hóa tỉnh thanh hóa năm 2015 2017

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng bất hợp pháp các chất dạng thuốc phiện (CDTP) nhƣ thuốc phiện, Morphin, Heroin… đã gây ra vấn đề sức khỏe, các gánh nặng bệnh tật và liên quan đến tử vong. Điều này là do mối quan hệ giữa sử dụng ma túy với sức khỏe tâm thần, tiêm chích ma túy, HIV/AIDS, viêm gan và tử vong do quá liều[1]. Việt Nam đã triển khai các hình thức cai nghiện tại cộng đồng, gia đình và các trung tâm chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội với biện pháp bắt buộc và tự nguyện. Tuy nhiên, tỷ lệ tái nghiện cao (>90%) sau khi hết thời gian cai nghiện khoảng 2 năm.

Đến năm 2008, Việt Nam thí điểm chƣơng trình điều trị nghiện các CDTP bằng methadone tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng trình thí điểm cho thấy điều trị methadone rất hiệu quả trong việc kiểm soát nghiện heroin và đƣợc chấp thuận để mở rộng dịch vụ ra các tỉnh, thành khác trong cả nƣớc[2]. Nghiên cứu của Hoàng Đình Cảnh (2011) ở mô hình thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng từ 11/2009 đến 11/2011, hiệu quả của mô hình đã đƣợc chứng minh qua kết quả giảm sử dụng ma túy từ 98,2% trƣớc khi điều trị xuống 12,4% sau 24 tháng; không phát hiện trƣờng hợp nhiễm mới HIV; vi phạm pháp giảm từ 40,8% xuống 1,6% sau 24 tháng. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Thanh Hóa thƣờng có điều kiện kinh tế khó khăn, đƣờng xá đi lại không thuận lợi, là nơi sinh sống của đa số là đồng bào dân tộc thiểu số và ngƣời bệnh nơi đây gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm (2015) tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc từ tháng 10/2014 đến 12/2015, kết quả chỉ ra rằng yếu tố khoảng cách đi uống thuốc hàng ngày ảnh hƣởng không nhỏ đến việc duy trì điều trị của bệnh nhân. Trong nghiên cứu khác của Phạm Đức Mạnh (2014) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc cũng cho thấy việc tiếp cận điều trị Methadone gặp nhiều khó khăn đối với bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa và nêu lên sự cần thiết phải nâng cao độ bao phủ và bền vững của chƣơng trình Methadone[3]. Quan Hóa là một huyện miền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, là địa bàn trọng điểm về HIV/AIDS và tiêm chích ma tuý. Đến 31/12/2017, toàn huyện có 2 440 ngƣời nhiễm HIV còn sống và ƣớc tính trên 700 ngƣời nghiện ma tuý; tình hình vận chuyển, buôn bán và sử dụng ma túy trên địa bàn diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát; trình độ văn hoá thấp cùng với nhiều thách thức xã hội và kinh tế nhƣ nghèo đói, lạm dụng chất ma túy, bất bình đẳng trong chăm sóc y tế cũng là nguy cơ gián tiếp làm lây truyền HIV trong đồng bào dân tộc thiểu số; lây nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích ma tuý (56,7%); đối tƣợng nghiện tập trung chủ yếu tại các xã Thành Sơn, Trung Sơn.Trong khi đó, cơ sở điều trị Methadone lại nằm ở Trung tâm Y tế huyện, ngƣời nghiện không thể đến nhận dịch vụ điều trị Methadone do khoảng cách từ nhà đến nơi điều trị từ 50-60 km.

Trƣớc thực trạng đó, từ tháng 5 năm 2015, ngành Y tế Thanh Hóa đã cho triển khai cơ sở điều trị methadone tại Trạm Y tếxãThành Sơn và xã Trung Sơn. Đến thời điểm năm 2015, tại Việt Nam, mô hình cơ sở điều trị Methadone đều đặt tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Y tếhuyện/thị/ thành phố.việc nghiên cứu mô hình điều trị Methadone tại tuyến xã, nhằm đƣa dịch vụ điều trị Methadone đến gần ngƣời bệnh, thuận tiện hơn trong tiếp cận làm tăng khả năng tuân thủ điều trị là cần thiết, có ý nghĩa. Đề tài luận án “Kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tuyến xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa năm 2015-2017”. Từ các kết quả ở nghiên cứu này có thể rút ra những bài học, kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo phục vụ công tác hoạch định chính sách, định hƣớng cho chiến lƣợc phòng chống HIV/AIDS trong tƣơng lai, đồng thời đóng góp thông tin có giá trị cho đào tạo và nghiên cứu khoa học.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận án có các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng sử dụng ma túy ở ngƣời nghiện ma túy trƣớc khi tham gia điều trị Methadone tại 2 xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015 2017” 2. Đánh giá kết quả, tính phù hợp và khả năng duy trì mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại 2 xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015-2017 4 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chất gây nghiện và chất ma tuý Chất gây nghiện khi đƣa vào cơ thể dƣới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế thần kinh hoặc kích thích mạnh mẽ hệ thần kinh, làm giảm đau.

gây ảo giác, dẫn đến thay đổi một hoặc nhiều chức năng của cơ thể ngƣời sử dụng [8, 9]. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành [6, 7].2 Chất dạng thuốc phiện (CDTP) Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất nhƣ thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Codein, Pethidine, LAAM… có biểu hiện lâm sàng tƣơng tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tƣơng tự ở não[6, 8, 9].3 Khái niệm về nghiện chất và ngƣời nghiện CDTP Nghiện chất là tình trạng bắt buộc phải sử dụng chất gây nghiện bất chấp những tác hại của chúng. Ngƣời nghiện CDTP là ngƣời sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần CDTP với liều lƣợng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tâm thần vào chất đó[8, 9].4 Cai nghiện Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà ngƣời nghiện thƣờng sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai, vì vậy bệnh nhân cần phải đƣợc điều trị[8, 9].5 Hội chứng cai và tái nghiện Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những ngƣời nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng[8, 9].

Tái nghiện là sử dụng ma túy trở lại đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuất hiện sau khi đã ngƣng sử dụng ma túy, hay sau khi điều trị hoặc cai nghiện với kết quả không còn triệu chứng cai [8, 9].6 Điều trị thay thế Methadone và cơ sở điều trị Methadone 5 Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế là việc sử dụng thuốc thay thế Methadone để điều trị cho ngƣời nghiện CDTP [8, 9]. Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone gọi tắt là cơ sở điều trị Methadone. Cơ sở điều trị nghiện Methadone là đơn vị điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone cho ngƣời nghiện CDTP, bao gồm cả việc cấp phát thuốc Methadone.7 Tuân thủ điều trị Methadone Tuân thủ điều trị Methadone đƣợc định nghĩa là mức độ ngƣời bệnh dùng thuốc Methadone và thực hành tuân theo y lệnh của thầy thuốc[6, 9].8 Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý Trong chƣơng trình điều trị Methadone, bỏ liều là tình trạng bệnh bệnh nhân không thực hiện uống thuốc hàng ngày: Bỏ 1-3 liều Methadone liên tục, xử lý uống nhƣ liều đang uống; bỏ từ 4-5 liều Methadone liên tục uống liều bằng ½ liều đang uống; bỏ từ 6 liều liên tục, xử lý khởi liều lại. Bỏ trị là tình trạng bệnh nhân bỏ liều liên tục trên 30 ngày và không quay lại tham gia điều trị[6, 9].

Tái sử dụng ma túy là sử dụng ma túy trở lại (dù chỉ một lần) để đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuất hiện.9 Vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản: 1) Hành vi của con ngƣời gồm hành vi hành động và hành vi không hành động; 2) Là hành ví trái quy định của pháp luật. Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ làm không đúng điểu pháp luật cho phép, không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật bắt buộc phải làm hoặc làm điều mà pháp luật cấm; 3) Là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể - trạng thái tâm lí thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện (nếu chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân thì ngƣời đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật 6 định, không mắc các bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức đƣợc hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và hậu quả pháp lí của nó).10 Chất lƣợng cuộc sống Chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân (Health-related quality of life viết tắt là HRQOL) là một thƣớc đo quan trọng về nhận thức của bệnh nhân về bệnh tật của họ. Chất lƣợng cuộc sống bao gồm các lĩnh vực: Vấn đề sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, các mối quan hệ xã hội và môi trƣờng[11].2 TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TUÝ VÀ NHIỄM HIV/AIDS 1.1 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Tình hình nghiện ma tuý:Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) năm 2017, ƣớc tính có khoảng 246 triệu ngƣời, tƣơng đƣơng với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã từng sử dụng ma túy trái phép.

Có khoảng trên 13 triệu ngƣời tiêm chích ma túy (PWID), ít nhất 190.000 trƣờng hợp bị tử vong do sử dụng ma túy và đa phần là sử dụng các chất dạng thuốc phiện. Việc sử dụng các chất dạng thuốc phiện(thuốc phiện, Heroin) bằng cách tiêm chích vẫn là nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á. Việc sử dụng ma túy gây ra ảnh hƣởng đến sức khỏe nhƣ sốc quá liều; chấn thƣơng do tai nạn, hành vi bạo lực; tình trạng nghiện ma túy. Các ảnh hƣởng mãn tính nhƣ là các bệnh (bệnh mạch vành, xơ gan,…), các bệnh lây truyền qua đƣờng máu do vi rút (HIV, viêm gan B, viêm gan C.) và các rối loạn tâm thần[12-14] .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ