Tổng quan nghiên cứu

Suy thận mạn giai đoạn cuối là một trong những thách thức y tế lớn trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam, gây suy giảm nghiêm trọng sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Theo thống kê của ngành y tế, cả nước hiện có hàng chục ngàn bệnh nhân cần điều trị thay thế thận, trong khi nguồn tạng hiến tặng còn rất khan hiếm với hơn 3000 ca ghép được thực hiện trên 19 cơ sở y tế đủ điều kiện. Ghép thận được chứng minh là giải pháp điều trị thay thế tối ưu nhất cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn IIIb và IV, giúp khôi phục toàn diện chức năng lọc máu, cân bằng nội môi, điều hòa huyết áp và bài tiết hormone. Tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc, nhu cầu điều trị thay thế thận ngày càng gia tăng tại các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, đòi hỏi phải phát triển kỹ thuật ghép thận chuyên sâu tại chỗ nhằm giảm tải cho các trung tâm tuyến trung ương tại Hà Nội.

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 09/2015 đến tháng 03/2019 nhằm đánh giá kết quả bước đầu triển khai kỹ thuật ghép thận từ người cho sống. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm hai phần: mô tả các đặc điểm giải phẫu, sinh lý của thận ghép thông qua siêu âm Doppler, xạ hình thận và cắt lớp vi tính 64 dãy; đồng thời đánh giá toàn diện kết quả phẫu thuật, sự hồi phục chức năng thận và các biến chứng sớm trên 22 cặp ghép. Kết quả đề tài khẳng định tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật đạt 100%, tỷ lệ sống sót của mảnh ghép và người bệnh đạt 100% sau phẫu thuật, mở ra triển vọng phát triển bền vững chuyên ngành ghép tạng tại khu vực miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng giải phẫu học định khu hệ tiết niệu, sinh lý học chức năng thận và miễn dịch học ghép tạng. Về mặt sinh lý, thận đảm nhiệm chức năng bài tiết duy trì áp suất thẩm thấu dịch ngoại bào ổn định ở mức 300 mOsm/L và chức năng nội tiết tiết ra Erythropoietin kích thích tủy xương tạo hồng cầu cũng như tổng hợp 1,25-Dihydroxycholecalciferol (dạng hoạt tính của Vitamin D) tham gia chuyển hóa Calci - Phospho. Về miễn dịch học, mức độ tương thích kháng nguyên bạch cầu người (HLA) và hệ nhóm máu ABO/Rh là tiêu chuẩn quyết định khả năng dung nạp mảnh ghép và phòng ngừa phản ứng thải ghép cấp hoặc tối cấp.

Mô hình nghiên cứu kết hợp chẩn đoán hình ảnh đa phương thức đóng vai trò then chốt trong đánh giá tiền phẫu:

  • Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) 64 dãy dựng hình mạch máu giúp xác định chính xác số lượng, đường kính và nguyên ủy động - tĩnh mạch thận.
  • Xạ hình chức năng thận bằng đồng vị phóng xạ 99mTc-DTPA cho phép định lượng mức lọc cầu thận riêng rẽ của từng bên thận, bảo đảm nguyên tắc ưu tiên giữ lại thận có chức năng tốt hơn cho người hiến (mức lọc cầu thận chung bình thường đạt khoảng 125 ml/phút).
  • Siêu âm Doppler màu mạch máu khảo sát vận tốc dòng chảy cuối tâm thu (Vs < 180 cm/s) và chỉ số trở kháng (RI < 0,80) để theo dõi tuần hoàn thận ghép trước và sau phẫu thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên chùm ca bệnh với phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thu thập toàn bộ 22 cặp ghép thận từ người cho sống thỏa mãn đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong thời gian từ tháng 09/2015 đến tháng 03/2019 tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 22 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được ghép thận và 22 người hiến thận sống tương ứng.

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn hồi cứu: Thu thập số liệu của 17 cặp ghép từ hồ sơ bệnh án lưu trữ từ tháng 09/2015 đến tháng 12/2017.
  • Giai đoạn tiến cứu: Theo dõi, thăm khám trực tiếp 5 cặp ghép từ tháng 01/2018 đến tháng 03/2019 theo đúng quy trình chuyên môn của Bộ Y tế.

Các biến số nghiên cứu bao gồm: đặc điểm nhân khẩu học, độ tương thích HLA, số lượng mạch máu cuống thận, thời gian thiếu máu nóng/lạnh, diễn biến các chỉ số sinh hóa (Ure, Creatinine máu), lượng nước tiểu 24 giờ và các tai biến, biến chứng sớm. Toàn bộ dữ liệu được mã hóa, làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê y học SPSS phiên bản 16.0. Các thuật toán thống kê y học chuyên biệt (kiểm định t-test cặp đôi so sánh các chỉ số định lượng trước - sau mổ và phân tích tần số/tỷ lệ phần trăm) được lựa chọn nhằm kiểm chứng mức độ phục hồi chức năng thận ghép với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,001.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận nhiều phát hiện quan trọng về đặc điểm đối tượng, giải phẫu cuống mạch và hiệu quả phục hồi sau ghép:

  • Về đặc điểm nhân khẩu học và miễn dịch: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân nhận thận là 32,68 ± 7,96 tuổi; trong đó nhóm tuổi trẻ từ 20 đến dưới 40 tuổi chiếm đa số với 90,90% (nam giới chiếm 63,60%, nữ giới chiếm 36,40%). Tỷ lệ cặp ghép có quan hệ huyết thống chiếm 77,30% (bố hiến cho con chiếm 52,90%, mẹ hiến cho con chiếm 35,30%, anh chị em chiếm 11,80%) và không cùng huyết thống chiếm 22,70%. 100% các cặp ghép hòa hợp hệ nhóm máu Rh(+) và 77,0% cùng nhóm máu hệ ABO. Tỷ lệ hòa hợp 3 cặp kháng nguyên HLA ở nhóm cùng huyết thống đạt 64,70%.
  • Về đặc điểm giải phẫu và chẩn đoán hình ảnh: Chụp CLVT 64 dãy xác định 77,30% thận ghép có 1 động mạch duy nhất và 22,70% có 2 động mạch; 95,50% có 1 tĩnh mạch với đường kính trung bình động mạch thận là 6,39 ± 1,03 mm và tĩnh mạch thận là 12,54 ± 3,80 mm. Xạ hình thận xác định mức lọc cầu thận trung bình của thận phải người hiến là 62,30 ± 6,60 ml/phút và thận trái là 55,0 ± 8,50 ml/phút (tổng mức lọc cầu thận hai bên đạt 116,50 ± 16,60 ml/phút).
  • Về thông số phẫu thuật và thời gian thiếu máu: Thời gian lấy thận trung bình là 48,60 ± 13,40 phút, thời gian rửa thận là 14,30 ± 2,78 phút và thời gian khâu nối ghép thận là 66,60 ± 15,90 phút. Thời gian thiếu máu nóng được kiểm soát chặt chẽ ở mức 3,77 ± 1,06 phút (ngắn nhất 2 phút, dài nhất 6 phút), thời gian thiếu máu lạnh trung bình 14,32 ± 2,78 phút và thời gian thiếu máu ấm là 48,18 ± 11,30 phút.
  • Về phục hồi chức năng thận sau ghép: 100% trường hợp có thận hồng căng đều và bài tiết nước tiểu ngay tại bàn mổ dưới 5 phút sau mở kẹp mạch máu. Nồng độ Creatinine huyết thanh giảm rõ rệt từ 915,70 ± 292,50 µmol/L trước ghép xuống 126,40 ± 42,50 µmol/L trong tuần đầu và đạt 105,10 ± 16,90 µmol/L sau 1 tháng (p < 0,001). Nồng độ Ure máu giảm từ 26,90 ± 12,30 mmol/L xuống 8,00 ± 1,23 mmol/L sau 1 tháng. Lượng nước tiểu trung bình 24 giờ tăng từ 581,80 ± 608,40 ml trước mổ lên 4953,60 ± 1319,00 ml trong tuần đầu tiên.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu được biểu diễn chi tiết qua hệ thống 22 bảng số liệu và các biểu đồ lâm sàng, làm nổi bật động học phục hồi chức năng thận ghép qua các mốc thời gian. Việc kiểm soát thời gian thiếu máu nóng trung bình ở mức 3,77 phút (dưới ngưỡng tối đa cho phép 10 phút) có ý nghĩa sinh học sống còn, giúp bảo vệ toàn vẹn tế bào biểu mô ống thận và ngăn chặn hiện tượng hoại tử ống thận cấp. Thời gian khâu nối động mạch trung bình 20,50 ± 5,70 phút và tĩnh mạch 27,40 ± 7,00 phút chứng minh sự thuần thục về kỹ thuật vi phẫu mạch máu của kíp phẫu thuật.

So sánh với các nghiên cứu tại các trung tâm ghép tạng lớn trong nước, kết quả phục hồi chức năng thận của Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên tương đương với các báo cáo tại Bệnh viện Chợ Rẫy (Creatinine huyết thanh sau 1 tháng dao động 110 - 125 µmol/L) và Bệnh viện Quân y 103. Trên siêu âm Doppler kiểm tra sau mổ, 95,50% bệnh nhân đạt vận tốc dòng chảy động mạch thận dưới 180 cm/s (trung bình 133 ± 28,60 cm/s) và 95,50% đạt chỉ số trở kháng RI dưới 0,80 (trung bình 0,67 ± 0,065), khẳng định tưới máu mô thận ghép hoàn toàn ổn định. Tỷ lệ biến chứng sớm sau ghép ở mức thấp, bao gồm 4 ca tụ dịch quanh thận (18,2%), 1 ca tụ máu nhẹ (4,5%), 1 ca nhiễm khuẩn vết mổ (4,5%) và 1 ca nhiễm khuẩn tiết niệu (4,5%). Tất cả các biến chứng đều được kiểm soát thành công bằng điều trị nội khoa, không có trường hợp nào phải phẫu thuật lại hay mất chức năng thận ghép.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình sàng lọc tiền phẫu bằng kỹ thuật chụp CLVT mạch máu 64 dãy và xạ hình chức năng thận 99mTc-DTPA cho 100% người hiến thận sống. Đặt mục tiêu rút ngắn thời gian hoàn tất đánh giá tương thích giải phẫu và miễn dịch xuống dưới 7 ngày làm việc trước khi trình Hội đồng ghép tạng bệnh viện phê duyệt.

Thứ hai, tối ưu hóa kỹ thuật phẫu thuật lấy thận và ghép thận nhằm duy trì thời gian thiếu máu nóng dưới 4 phút và thời gian khâu nối mạch máu dưới 25 phút cho mỗi miệng nối. Kíp phẫu thuật Ngoại Tiết niệu - Lồng ngực chủ trì triển khai kỹ thuật khâu nối cải tiến và kỹ thuật trồng niệu quản Lich-Gregoir đồng bộ trong toàn bộ các ca mổ giai đoạn 2020-2025.

Thứ ba, thiết lập quy trình theo dõi huyết động học tại giường bằng siêu âm Doppler màu mạch máu thận ghép trong 7 ngày đầu sau mổ. Mục tiêu phát hiện sớm 100% các dấu hiệu tăng chỉ số trở kháng (RI ≥ 0,80) hoặc hẹp miệng nối động mạch để can thiệp kịp thời, do Khoa Hồi sức Ngoại phối hợp cùng Khoa Thăm dò chức năng thực hiện.

Thứ tư, xây dựng hệ thống quản lý và chăm sóc bệnh nhân sau ghép thận dài hạn, bảo đảm 100% bệnh nhân được theo dõi định kỳ nồng độ thuốc ức chế miễn dịch (duy trì nồng độ đáy Tacrolimus/Cyclosporin theo phác đồ) và chức năng thận (đích Creatinine duy trì dưới 120 µmol/L trong 12 tháng đầu). Đơn vị phụ trách là Khoa Khám bệnh và Khoa Nội Thận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Tiết niệu và Phẫu thuật Mạch máu: Tham khảo chi tiết các mốc giải phẫu mạch máu cuống thận, kỹ thuật xử lý các biến thể nhiều động - tĩnh mạch, quy trình rửa thận bảo quản lạnh và kỹ thuật cắm niệu quản vào bàng quang theo phương pháp Lich-Gregoir.
  • Bác sĩ chuyên khoa Nội Thận, Lọc máu và Hồi sức cấp cứu: Ứng dụng quy trình theo dõi nước tiểu từng giờ, kiểm soát điện giải, điều chỉnh liều thuốc ức chế miễn dịch và xử trí các biến chứng sớm như tụ dịch quanh thận, nhiễm khuẩn đường tiết niệu sau ghép.
  • Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh Y khoa: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thiết kế mẫu bệnh án thu thập dữ liệu ghép tạng và kỹ thuật phân tích số liệu y sinh học bằng SPSS.
  • Nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc các bệnh viện đa khoa khu vực: Định hướng xây dựng cơ sở hạ tầng, tổ chức nhân sự liên khoa (Ngoại, Nội, Gây mê hồi sức, Huyết học, Chẩn đoán hình ảnh) để triển khai thành công kỹ thuật ghép tạng tại các địa phương ngoài Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao việc kiểm soát thời gian thiếu máu nóng dưới 5 phút lại mang tính quyết định đến chức năng thận ghép? Thời gian thiếu máu nóng là khoảng thời gian từ khi cặp mạch máu thận người hiến đến khi bắt đầu bơm dịch bảo quản lạnh 4 độ C. Nếu thời gian này kéo dài trên 5 - 10 phút, tế bào biểu mô ống thận sẽ bị tổn thương do thiếu oxy, dẫn đến suy thận cấp hoặc hoại tử ống thận sau mổ. Trong nghiên cứu, thời gian thiếu máu nóng trung bình 3,77 phút giúp 100% thận bài tiết nước tiểu ngay tại bàn mổ.

  • Vai trò của chụp cắt lớp vi tính 64 dãy trong lựa chọn thận ghép từ người cho sống là gì? Chụp CLVT 64 dãy cho phép dựng hình không gian 3 chiều của hệ mạch máu thận, xác định chính xác số lượng động mạch (1 động mạch chiếm 77,30%, 2 động mạch chiếm 22,70%), kích thước lòng mạch và các biến thể giải phẫu. Nhờ đó, phẫu thuật viên chủ động lựa chọn bên thận lấy an toàn cho người hiến và thuận lợi cho việc khâu nối ở người nhận.

  • Mức độ tương thích miễn dịch và HLA ảnh hưởng như thế nào đến kết quả phẫu thuật trong đề tài? Nghiên cứu ghi nhận 100% cặp ghép phù hợp nhóm máu Rh(+) và 77,0% cùng nhóm máu ABO. Tỷ lệ hòa hợp 3 cặp kháng nguyên HLA ở người cùng huyết thống đạt 64,70%. Sự tương thích miễn dịch cao kết hợp điều trị ức chế miễn dịch chuẩn giúp loại bỏ hoàn toàn hiện tượng thải ghép tối cấp và thải ghép cấp sớm trong thời gian nghiên cứu.

  • Những biến chứng sớm nào thường gặp sau ghép thận và mức độ nguy hiểm ra sao? Các biến chứng sớm ghi nhận gồm tụ dịch quanh thận (18,2%), tụ máu nhẹ quanh thận (4,5%), nhiễm khuẩn vết mổ (4,5%) và nhiễm khuẩn tiết niệu (4,5%). Tất cả biến chứng đều ở mức độ nhẹ, không có biến chứng mạch máu nặng (chảy máu miệng nối, huyết khối động mạch) và được điều trị bảo tồn thành công mà không phải mổ lại.

  • Tốc độ phục hồi của nồng độ Creatinine và Ure huyết thanh sau mổ diễn ra như thế nào? Chức năng lọc của thận ghép phục hồi rất nhanh chóng. Creatinine huyết thanh giảm mạnh từ 915,70 µmol/L trước mổ xuống còn 126,40 µmol/L sau 7 ngày đầu và đạt mức bình thường 105,10 µmol/L sau 1 tháng. Đồng thời, nồng độ Ure máu giảm từ 26,90 mmol/L xuống 8,00 mmol/L, phản ánh sự phục hồi nội môi toàn diện.

Kết luận

  • Đề tài đã nghiên cứu và đánh giá thành công kết quả phẫu thuật ghép thận từ người cho sống trên 22 cặp ghép tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên với tỷ lệ thành công mảnh ghép đạt 100%.
  • Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại (CLVT 64 dãy, xạ hình 99mTc-DTPA và siêu âm Doppler) chứng minh độ chính xác tuyệt đối trong đánh giá giải phẫu mạch máu và chức năng thận hiến trước mổ.
  • Thời gian thiếu máu nóng được kiểm soát chặt chẽ ở mức trung bình 3,77 phút, tạo điều kiện cho 100% thận ghép bài tiết nước tiểu tức thì dưới 5 phút sau khi mở kẹp mạch máu.
  • Nồng độ Creatinine huyết thanh và Ure máu hồi phục hoàn toàn về giới hạn sinh lý bình thường sau 30 ngày (Creatinine đạt 105,10 ± 16,90 µmol/L, p < 0,001) với tỷ lệ biến chứng ngoại khoa nặng bằng 0%.
  • Các cơ sở y tế chuyên khoa cần tiếp tục áp dụng chuẩn hóa quy trình phẫu thuật này, đồng thời mở rộng nghiên cứu triển khai ghép thận từ người cho chết não trong giai đoạn tiếp theo để đáp ứng nhu cầu điều trị ngày càng lớn của người bệnh.