ĐẶT VẤN ĐỀ Xẹp đốt sống do loãng xương là trạng thái gãy xương trong thân đốt sống dẫn đến biến dạng lún ép các thân đốt sống gây nên bởi tình trạng mất chất xương từ từ, kín đáo [46]. Loãng xương là nguyên nhân gây xẹp đốt sống phổ biến nhất trên toàn thế giới. Xẹp đốt sống do loãng xương đang ngày càng gia tăng cùng với tình trạng dân số già hóa và trở thành gánh nặng cho y tế [55]. Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 700.000 trường hợp bị xẹp đốt sống do loãng xương, nhiều nghiên cứu cho thấy xẹp đốt sống có thể xảy ra ở 30% - 50% dân số toàn cầu trên 50 tuổi [21].
Hậu quả phổ biến nhất của xẹp đốt sống là đau lưng cấp tính và kéo dài dai dẳng, hạn chế vận động các mức độ khác nhau. Ngoài ra xẹp đốt sống còn gây trượt đốt sống, gù cột sống, rối loạn chức năng tiêu hóa – hô hấp,.thậm chí liệt hoàn toàn, dẫn đến tăng tỷ lệ và thời gian nằm viện, và cuối cùng là tăng nguy cơ tử vong [48]. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị xẹp đốt sống do loãng xương, bao gồm điều trị nội khoa, ngoại khoa và điều trị can thiệp tối thiểu (bơm xi măng). Điều trị nội khoa gồm nằm bất động tại chỗ, dùng thuốc giảm đau, đeo nẹp,.Tuy nhiên, nằm bất động tại chỗ kéo dài có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm phổi, loét do tì đè, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tắc mạch do huyết khối [23].
Hạn chế của điều trị nội khoa là mới chỉ đạt hiệu quả làm chậm quá trình mất chất xương, tăng khối xương mà chưa phục hồi lại cấu trúc xương. Điều trị bằng bơm xi măng có nhiều ưu điểm như làm vững cột sống, ít xâm lấn, giảm đau hiệu quả, thời gian nằm tại chỗ ngắn, bệnh nhân sớm trở lại sinh hoạt bình thường [42]. Năm 1984 tại Pháp, bơm xi măng không bóng (Vertebroplasty) được đề ra bởi Hervé Deramond. Sau khi bơm xi măng giúp làm vững cột sống và giảm đau cho bệnh nhân.
Năm 1990, Mark Reiley lần đầu tiên đưa ra ý tưởng chỉnh hình đốt sống bị xẹp bằng bơm xi măng có bóng (Kyphoplasty) [44]. Hai quả 2 bóng được đưa vào thân đốt sống bị xẹp, bóng được bơm căng lên làm phồng đốt sống, trả lại hình dáng gần như ban đầu. Sau khi lấy bóng ra, xi măng được bơm vào khoảng trống vừa tạo mà không chịu áp lực, nhờ đó xi măng ít có khả năng tràn ra ngoài. Như vậy phương pháp tạo hình đốt sống bằng bơm xi măng có bóng không chỉ giúp giảm đau sớm cho người bệnh, mà còn khôi phục được chiều cao đốt sống bị xẹp, phòng tránh nguy cơ gù cột sống, giảm biến chứng tràn xi măng ra ngoài.
Ở Việt Nam, kỹ thuật bơm xi măng có bóng được thực hiện ở nhiều cơ sở y tế và đem lại kết quả khả quan [10]. Tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên kỹ thuật bơm xi măng có bóng đã được thực hiện trong nhiều năm và trở thành kỹ thuật thường quy. Để đánh giá hiệu quả của phương pháp này nhằm nâng cao kinh nghiệm và chất lượng trong chẩn đoán, điều trị xẹp đốt sống do loãng xương chúng tôi nghiên cứu đề tài “Kết quả điều trị xẹp thân đốt sống do loãng xương bằng phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả điều trị xẹp đốt sống do loãng xương bằng phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng trên bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị xẹp đốt sống do loãng xương bằng phương pháp bơm xi măng sinh học có bóng. Đại cương xẹp đốt sống do loãng xương 1. Giải phẫu cột sống và ứng dụng Cột sống là trụ cột chính của thân người đi từ mặt dưới xương chẩm đến đỉnh xương cụt. Cột sống gồm 33-35 đốt sống chồng lên nhau, được chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn có một chiều cong và các đặc điểm riêng thích ứng với chức năng của đoạn đó.
Từ trên xuống dưới: đoạn cổ có 7 đốt, đoạn ngực có 12 đốt, đoạn thắt lưng có 5 đốt, đoạn cùng có 5 đốt dính liền với nhau tại thành xương cùng – cong lồi ra sau, đoạn cụt gồm 4 – 6 đốt sống cuối cùng dính vào nhau tạo thành xương cụt. Cột sống có ba chức năng chính là chức năng mang tải trọng lực, chức năng bảo vệ tủy sống và chức năng vận động [3]. Hình thể chung của các đốt sống Mỗi đốt sống gồm có thân đốt sống và cung đôt sống vây quanh lỗ đốt sống. Hình thể đốt sống thắt lưng Nguồn: Mathis J.M (2006) [44] Thân đốt sống (vertebral body) Hình trụ dẹt, có 2 mặt: trên và dưới, hơi lõm ở giữa và một vành xương đặc ở xung quanh.
4 Cung đốt sống (vertebral arch) ở phía sau thân đốt sống, cùng với thân đốt sống tạo thành lỗ đốt sống. Cung đốt sống gồm: 2 mảnh cung đốt sống (lamina of vertebral arch) rộng, dẹt nằm ở sau; 2 cuống cung đốt sống (pedicle of vertebral arch) ở trước mảnh, dính với thân; và các mỏm từ cung mọc ra. Hai bờ trên và dưới của mỗi cuống có khuyết sống trên và khuyết sống dưới. Khi 2 đốt sống khớp nhau thì các khuyết đó tạo thành lỗ gian đốt sống để cho dây thần kinh và mạch máu đi qua.
Các mỏm từ cung đốt sống chồi ra: Mỏm gai từ giữa mặt sau của cung đốt sống chạy ra sau và xuống dưới. Mỏm ngang từ chỗ nối giữa cuống và mảnh đi ngang ra phía ngoài. Mỗi đốt sống có 4 mỏm: 2 mỏm khớp trên và 2 mỏm khớp dưới. Các mỏm này cũng mọc ra từ chỗ nối giữa cuống và mảnh của cung đốt sống.
Mỗi mỏm có một diện khớp để khớp với đốt sống kế cận. Lỗ đốt sống (vertebral foramen) được giới hạn phía trước bởi thân đống sống, ở hai bên và phía sau bởi cung đốt sống. Khi các đốt sống ghép lại thành cột sống thì các lỗ đốt sống tạo thành ống sống chứa tủy sống [3]. Ứng dụng đặc điểm giải phẫu trong bơm xi măng vào thân đốt sống Hình 1.
Hình minh họa chọc Troca đường sườn – cột sống Nguồn: Mathis J.M (2006) [44] 5 Kích thước của thân đốt sống và cuống sống tăng dần từ đoạn cổ đến đoạn thắt lưng. Do vậy, khi chọc kim qua cuống sống vào đốt sống người ta thường dùng Troca 11G đối với đốt sống bản lề ngực - thắt lưng, thắt lưng và dùng Troca 13 cho các đốt sống ngực cao. Các rễ thần kinh và mạch máu nằm ở góc trên của lỗ liên hợp, vì vậy khi chọc kim qua cuống thì đường đi của Troca phải ở nửa trên của cuống sống, tránh gây tổn thương rễ thần kinh và mạch máu, tương ứng vị trí 10h và 2h trên hình chiếu thẳng trước sau của cuống sống. Cột sống thắt lưng gồm 5 đốt sống, tăng nhẹ kích thước từ trên xuống dưới.
Cuống sống của L1 có hướng tương đối thẳng từ trước ra sau, các cuống sống còn lại có xu hướng chếch dần sang hai bên. Hình minh họa chọc Troca đường đi qua cuống Nguồn: Mathis J.M (2006) [44] Đường vào thân đốt sống thắt lưng được sử dụng thông thường là qua cuống sống. Cuống sống các đốt sống thắt lưng thường to nên có thể sử dụng kim 10-11G mà không gặp phải khó khăn nào. Do đường đi của Troca xuyên qua cơ thắt lưng chậu, cần theo dõi tụ máu trong cơ thắt lưng chậu sau bơm xi măng [44].
Giải phẫu mạch máu của cột sống Các nhánh động mạch tách từ động mạch chủ và chạy dọc theo bờ ngoài của thân đốt sống cấp máu cho thân đốt sống, khoang ngoài màng cứng và các rễ thần kinh. Các nhánh mạch này nối với nhau và tạo thành vòng nối quanh thân đốt sống và giữa các đốt sống với nhau. Hệ thống tĩnh mạch đốt sống được tạo nên từ ba hệ thống tĩnh mạch không có van, bao gồm các tĩnh mạch trong thân đốt sống, tĩnh mạch khoang ngoài màng cứng và tĩnh mạch cạnh sống. Hệ thống động mạch và tĩnh mạch đốt sống Nguồn: Mathis J.M (2006) [44] Sự thông thương giữa các hệ thống tĩnh mạch này sẽ có thể tạo ra tình trạng tràn xi măng ra trước, ra sau hoặc cạnh thân đốt sống.
Các tĩnh mạch trong thân đốt sống dẫn lưu ra sau qua tĩnh mạch nền đốt sống. Các tĩnh mạch nền nối trực tiếp với hệ thống tĩnh mạch ngoài màng cứng. Các tĩnh mạch trong thân đốt sống dẫn lưu ra phía bên, đổ về các tĩnh mạch cạnh sống. Các tĩnh mạch cạnh sống tạo thành hệ thống đi phía bên thân đốt sống, nối với hệ thống 7 tĩnh mạch ngoài màng cứng rồi đổ về hệ thống tĩnh mạch trung tâm nằm trước cột sống (bao gồm tĩnh mạch đơn và tĩnh mạch chủ dưới) [3].
Loãng xương và xẹp đốt sống do loãng xương 1. Định nghĩa và phân loại loãng xương Định nghĩa loãng xương theo WHO: “Loãng xương là bệnh được đặc trưng bởi sự giảm khối xương, tổn hại đến vi cấu trúc của mô xương dẫn đến giòn xương và nguy cơ gãy xương tăng” [49]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), loãng xương được xác định dựa trên chỉ số T-score. T-score thể hiện sự khác biệt giữa mật độ xương đo được và mật độ xương tham chiếu (mật độ xương của người cùng giới, chủng tộc và lứa tuổi).
Khi T-score ≤ -2,5 độ lệch chuẩn (SD) thì được coi là loãng xương [49]. Xương bình thường Loãng xương Hình 1. Hình ảnh vi thể của xương bình thường và loãng xương Nguồn: Cosman F, et al (2014) [23] Loãng xương được phân loại gồm: loãng xương người già, loãng xương sau mãn kinh và loãng xương thứ phát. - Loãng xương người già (loãng xương tiên phát) có đặc điểm: tăng quá trình huỷ xương, giảm quá trình tạo xương.
Nguyên nhân gồm: các tế bào tạo xương (Osteoblast) bị lão hoá, sự hấp thu calci ở ruột bị hạn chế, sự suy giảm tất yếu các hormon sinh dục (nữ và nam). Loãng xương nguyên phát thường xuất hiện trễ, diễn biến chậm, tăng từ từ và ít có những biến chứng nặng nề như gẫy xương hay lún xẹp các đốt sống [2]. 8 - Loãng xương sau mãn kinh: loãng xương sau mãn kinh làm nặng hơn tình trạng loãng xương do tuổi ở phụ nữ do tình trạng giảm đột ngột estrogen khi mãn kinh. Đặc điểm: tăng quá trình huỷ xương, quá trình tạo xương bình thường.