Luận văn thạc sĩ hay kết quả điều trị bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bằng infliximab kết hợp methotrexate tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích hiệu quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng infliximab và methotrexate tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ y học

2019

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương về bệnh viêm khớp dạng thấp

1.2. Khái niệm VKDT là bệnh lý khớp viêm tự miễn mạn tính

1.3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

1.4. Triệu chứng lâm sàng

1.5. Cận lâm sàng

1.6. Chẩn đoán hình ảnh

1.7. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh VKDT

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả điều trị

3.2. Đặc điểm về tuổi, giới và giai đoạn bệnh

3.3. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh

3.4. Các chỉ số về mức độ hoạt động bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

3.5. Kết quả điều trị của Infliximab phối hợp với Methotrexat

3.6. Các chỉ số đánh giá cải thiện hoạt động bệnh

3.7. Các chỉ số đánh giá tính an toàn của Infliximab phối hợp với Methotrexat

3.8. Xác định một số yếu tố liên quan đến điều trị Infliximab kết hợp với Methotrexate

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

4.2. Đặc điểm về tuổi và giới

4.3. Đặc điểm về giai đoạn bệnh của hai nhóm bệnh nhân

4.4. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh

4.5. Các chỉ số về mức độ hoạt động bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

4.6. Kết quả điều trị của Infliximab phối hợp với Methotrexat

4.7. Các chỉ số đánh giá cải thiện hoạt động bệnh

4.8. Một số yếu tố liên quan đến điều trị

4.8.1. Liên quan giữa tuổi và giới với điều trị của nhóm nghiên cứu

4.8.2. Liên quan giữa thời gian mắc bệnh với điều trị của nhóm nghiên cứu

4.8.3. Liên quan giữa nồng độ xét nghiệm miễn dịch với điều trị của nhóm nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Kết quả điều trị của Infliximab phối hợp với MTX trong điều trị VKDT

5.2. Một số yếu tố liên quan đến điều trị

6. CHƯƠNG 6: KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm khớp dạng thấp và điều trị bằng Infliximab

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý khớp viêm mạn tính, có cơ chế tự miễn dịch, gây tổn thương chủ yếu tại màng hoạt dịch. Bệnh thường gặp ở nữ giới, với tỷ lệ mắc cao trong độ tuổi trung niên. Điều trị VKDT cần đạt mục tiêu lui bệnh và làm chậm quá trình phá hủy khớp. Trong những năm gần đây, việc sử dụng thuốc sinh học như Infliximab kết hợp với Methotrexate đã cho thấy hiệu quả tích cực trong điều trị bệnh này.

1.1. Đặc điểm và triệu chứng của viêm khớp dạng thấp

VKDT thường biểu hiện bằng triệu chứng sưng, đau ở nhiều khớp nhỏ, nhỡ, có tính chất đối xứng. Cứng khớp buổi sáng và các triệu chứng toàn thân như gầy sút, thiếu máu cũng thường gặp. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để bắt đầu điều trị kịp thời.

1.2. Vai trò của Infliximab trong điều trị viêm khớp dạng thấp

Infliximab là một thuốc ức chế TNF-alpha, có tác dụng làm giảm viêm và cải thiện triệu chứng lâm sàng. Nghiên cứu cho thấy Infliximab kết hợp với Methotrexate có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng riêng lẻ.

II. Thách thức trong điều trị viêm khớp dạng thấp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong điều trị VKDT, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả. Việc theo dõi tác dụng phụ của thuốc và đánh giá hiệu quả điều trị là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, việc triển khai điều trị bằng Infliximab và Methotrexate đã gặp phải một số khó khăn trong việc quản lý bệnh nhân.

2.1. Các tác dụng phụ của Infliximab và Methotrexate

Việc sử dụng Infliximab có thể gây ra một số tác dụng phụ như nhiễm trùng, phản ứng dị ứng và các vấn đề về gan. Methotrexate cũng có thể gây ra tác dụng phụ như buồn nôn, mệt mỏi và tổn thương gan. Do đó, việc theo dõi chặt chẽ là rất quan trọng.

2.2. Khó khăn trong việc theo dõi hiệu quả điều trị

Việc đánh giá hiệu quả điều trị VKDT bằng Infliximab và Methotrexate cần dựa trên nhiều chỉ số khác nhau như DAS28, CRP và các chỉ số lâm sàng khác. Tuy nhiên, việc thu thập và phân tích dữ liệu này vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

III. Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp bằng Infliximab và Methotrexate

Phương pháp điều trị VKDT bằng Infliximab và Methotrexate đã được áp dụng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên với nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả. Việc kết hợp hai loại thuốc này không chỉ giúp giảm triệu chứng mà còn bảo tồn cấu trúc khớp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Liều lượng và cách sử dụng Infliximab

Liều lượng Infliximab thường được điều chỉnh dựa trên tình trạng bệnh nhân và phản ứng với điều trị. Thông thường, liều khởi đầu là 3 mg/kg, sau đó có thể duy trì mỗi 8 tuần một lần.

3.2. Liều lượng và cách sử dụng Methotrexate

Methotrexate thường được sử dụng với liều khởi đầu 7.5 mg/tuần, có thể tăng dần lên tối đa 25 mg/tuần tùy theo tình trạng bệnh nhân. Việc theo dõi chức năng gan và huyết học là rất cần thiết trong quá trình điều trị.

IV. Kết quả điều trị viêm khớp dạng thấp tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Kết quả điều trị bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bằng Infliximab kết hợp Methotrexate tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy nhiều cải thiện đáng kể. Các chỉ số như DAS28, CRP đều giảm rõ rệt sau khi điều trị, cho thấy hiệu quả tích cực của phương pháp này.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị qua các chỉ số lâm sàng

Nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng lâm sàng và các chỉ số đánh giá hoạt động bệnh như DAS28 và CRP sau 22 tuần điều trị. Điều này cho thấy Infliximab và Methotrexate có tác dụng tích cực trong việc kiểm soát bệnh.

4.2. Tác dụng phụ và an toàn trong điều trị

Mặc dù có một số tác dụng phụ, nhưng tỷ lệ này là chấp nhận được và không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bệnh nhân. Việc theo dõi và quản lý tốt các tác dụng phụ đã giúp nâng cao tính an toàn trong điều trị.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị viêm khớp dạng thấp

Kết quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng Infliximab và Methotrexate tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Việc tiếp tục nghiên cứu và cải tiến phương pháp điều trị sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá sâu hơn về hiệu quả và an toàn của các phương pháp điều trị này.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo trong điều trị VKDT

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và tìm kiếm các phương pháp điều trị mới, an toàn hơn cho bệnh nhân.

5.2. Tầm quan trọng của việc theo dõi lâu dài

Việc theo dõi lâu dài các bệnh nhân điều trị bằng Infliximab và Methotrexate là rất cần thiết để đánh giá hiệu quả bền vững và phát hiện sớm các tác dụng phụ.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay kết quả điều trị bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bằng infliximab kết hợp methotrexate tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương về bệnh viêm khớp dạng thấp 1. Khái niệm VKDT là bệnh lý khớp viêm tự miễn mạn tính, đặc trưng bởi sưng đau nhiều khớp nhỏ, nhỡ, đối xứng với tổn thương cơ bản là màng hoạt dịch (MHD). Bệnh thường gặp ở nữ giới, tỉ lệ nữ/nam rất khác nhau tuỳ theo các nghiên cứu nhưng không thấp hơn 3/1.

Tuổi trung niên (30 – 65 tuổi) là lứa tuổi hay gặp nhất. Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp. Nữ giới, tuổi trung niên là những đặc điểm dịch tễ học đặc thù của bệnh VKDT. Tại Việt Nam, VKDT chiếm khoảng 0.5% trong cộng đồng và là bệnh lý chiếm trên 20% số bệnh nhân mắc bệnh khớp phải nằm điều trị nội trú tại bệnh viện[1][10] [5].

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Cho đến nay, nguyên nhân gây bệnh trong VKDT vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Hầu hết các tác giả cho rằng VKDT là bệnh lý tự miễn với nhiều yếu tố tham gia. Virus và các vi khuẩn thường gặp có thể đã tác động vào yếu tố cơ địa thận lợi hoặc yếu tố môi trường làm khởi phát bệnh [1]. Yếu tố di truyền đã được tìm thấy từ lâu.

Gần đây, nhiều tác giả nhận thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa VKDT và yếu tố kháng nguyên phù hợp tổ chức HLA-DR4. Khoảng 60 – 70% bệnh nhân VKDT dương tính với yếu tố này, trong khi quần thể người bình thường chỉ có khoảng 15% người có HLA-DR4 [10] Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp dạng thấp chưa rõ, hiện bệnh được coi là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền. Kháng nguyên là các tác nhân gây bệnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 xâm nhập vào cơ thể gây khởi phát một chuỗi các phản ứng miễn dịch, trong đó các tế bào lympho T đóng vai trò then chốt. Các tế bào lympho T, sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, sẽ tập trung nhiều ở các khớp bị ảnh hưởng và giải phóng ra các cytokin.

Vai trò của các cytokin này là tác động lên các tế bào khác, trong đó có ba loại tế bào chủ yếu: lympho B, đại thực bào và tế bào nội mô mạch máu màng hoạt dịch. Dưới tác động của các cytokin trên, các tế bào lympho B sẽ sản xuất ra yếu tố dạng thấp có bản chất là các globulin miễn dịch (đa số thuộc nhóm IgG, một số thuộc nhóm IgM), từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng tại màng hoạt dịch khớp và gây tổn thương khớp. Các cytokin cũng hoạt hoá đại thực bào sản xuất ra các cytokin khác gây kích thích các tế bào màng hoạt dịch, tế bào sụn, nguyên bào xơ… tăng sinh, xân lấn vào sụn tạo thành màng máu. Các tế bào trên, đến lượt mình lại giải phóng ra một loạt các enzyme như collagenase, stromelysin, elastase…gây huỷ hoại sụn khớp, xương.

Các cytokin do tế bào lympho T tiết ra còn hoạt hoá các tế bào nội mô mao mạch màng hoạt dịch sản xuất ra các phân tử kết dính, thu hút các loại tế bào viêm đến khoang khớp. Các tế bào viêm này đến lượt mình lại giải phóng ra các cytokin khác…Hậu quả của các quá trình này là hình thành màng máu màng hoạt dịch (pannus). Pannus tăng sinh và phì đại, xâm lấn sâu vào đầu xương dưới sụn gây nên các thương tổn thương bào mòn xương (erosion) và hủy khớp, dẫn đến tình trạng dính và biến dạng khớp. Hiện nay, dựa trên sự hiểu biết về cơ chế bệnh, các thuốc điều trị sinh học nhằm vào đích, ức chế từng loại tế bào, từng loại cytokin, do đó được coi là điều trị theo mục tiêu[1] [8].

Các yếu tố thuận lợi: nhiễm khuẩn (Epstein-Barr virus, Parvo virus. hoặc Mycoplasma, vi khuẩn đường ruột.); cơ địa (cơ thể suy yếu, chấn thương.), hoặc yếu tố môi trường (lạnh ẩm kéo dài); tuổi, giới (trên 40; nữ); tính chất gia đình, HLA- DR4. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ chế bệnh sinh trong viêm khớp dạng thấp 1.

Triệu chứng lâm sàng Sưng, nóng, đau có thể có đỏ ở nhiều khớp nhỏ, nhỡ ngoại vi có tính chất đối xứng hai bên là những triệu chứng lâm sàng điển hình, hay gặp trong VKDT. Các khớp hay gặp là khớp cổ tay, các khớp bàn ngón, khớp ngón gần, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân là các khớp hay gặp. Khớp vai, khớp háng là các khớp ít gặp và thường khi bệnh đã diễn biến nhiều năm. Sưng đau các khớp kiểu viêm, diễn biến thường kéo dài trên 6 tuần và nhiều đợt tái phát là các chỉ điểm tin cậy của bệnh VKDT.

Ngoài ra, cứng khớp buổi sáng (CKBS) cũng thường gặp trong các đợt tiến triển của bệnh[1] [8]. Toàn thân bệnh nhân VKDT thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Gầy sút, thiếu máu[26], chán ăn là những dấu Kết phù hợp với diễn biễn mạn tính của bệnh. Các triệu chứng ngoài khớp như hạt dưới da (rất đặc Kết trong VKDT nhưng ít gặp tại Việt Nam), viêm gân, dây chằng và phần mềm cạnh khớp cũng có thể gặp.

Một số trường hợp tổn thương nội tạng như màng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tim, màng phổi, não thường rất nặng cần chẩn đoán sớm và điều trị tích cực[8]. Cận lâm sàng 1. Xét nghiệm máu và dịch khớp + Hội chứng viêm sinh học Hội chứng viêm sinh học, biểu hiện bởi các thông số sau - Tốc độ máu lắng (TĐML): Các nhà khớp học đã sử dụng TĐML để đánh giá hoạt động của bệnh VKDT và tình trạng viêm nhiễm khác, TĐML cho phép đánh giá mức độ nặng, nhẹ của viêm. Tuy nhiên TĐML bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như tuổi, giới, sự thiếu máu, tỷ lệ fibrinogen, globulin miễn dịch và các protein khác [14] [6].

- Tăng các protein viêm: fibrinogen,fibrin, protein C phản ứng (CRP) tăng nhanh khi cơ thể phản ứng lại các tác nhân gây viêm sau đó giảm nhanh khi quá trình viêm được thoái lui. Trong VKDT và một số bệnh khớp nói chung đều tăng CRP trong giai đoạn tiến triển của bệnh [14]. Hội chứng thiếu máu: thường gặp trong quá trình viêm mạn tính. + Các xét nghiệm miễn dịch - Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Factor-RF): Năm 1940 Waaler và Rose (1947) phát hiện ra yếu tố dạng thấp bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu, do đó phản ứng tìm yếu tố dạng thấp mang tên hai tác giả này: phản ứng Waaler - Rose và/hoặc latex.

Ngày nay có nhiều phương pháp định tính và định lượng RF, xong chủ yếu dùng phương pháp hấp thụ miễn dịch, ngưng kết hạt latex hoặc quang kế miễn dịch. Đánh giá : 50-75 % bệnh nhân VKDT có RF (+)[13] [41] [42] [54]. - Kháng thể kháng CCP (anti - cyclic citrulinated peptide antibodies: anti - CCP): Giá trị của chúng là xuất hiện sớm, thậm chí trước khi có viêm khớp v à có giá trị tiên lượng VKDT có hủy hoại khớp. Khi có mặt đồng thời cả RF và Anti- CCP thì độ dặc hiệu trong VKDT rất cao.

Độ nhậy của của anti - CCP trong VKDT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khoảng từ 40 - 70%, nhưng độ đặc hiệu có thể cao tới 98%, nhất là khi sử dụng những bộ test thế hệ mới (như CCP - 2). Ở những bệnh nhân có viêm khớp chưa rõ ràng, kháng thể kháng CCP dương tính là một yếu tố tiên đoán quan trọng đối với bệnh VKDT; 90% những bệnh nhân này sẽ tiến triển thành VKDT trong vòng 3 năm. Những bệnh nhân VKDT có mặt đồng thời cả RF và anti – CCP thường có tiên lượng xấu hơn về chức năng vận động và tổn thương trên X quang [7]. Một số nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân có dương tính với một hoặc cả hai kháng thể RF và/hoặc Anti - CCP có đáp ứng tốt với trị liệu sử dụng thuốc kháng tế bào B (Ritucimab) (+)[13] [41] [42].

+ Các xét nghiệm dịch khớp thường biểu hiện dịch viêm cấp với tăng bạch cầu đa nhân không thoái hoá, ngoài ra giảm lượng muxin (test muxin dương tính) nhưng ngày nay ít có giá trị sử dụng. Chẩn đoán hình ảnh [34][35] [28]. Siêu âm khớp tổn thương Phát hiện viêm màng hoạt dịch đặc biệt trong đợt tiến triển. Siêu âm có thể phát hiện tổn thương viêm màng hoạt dịch từ giai đoạn sớm của bệnh VKDT.

Ngoài ra siêu âm còn phát hiện được hình ảnh bào mòn xương. Có thể siêu âm khớp cổ tay hoặc khớp gối để phát hiện tổn thương trong bệnh viêm khớp dạng thấp[11]. Siêu âm Doppler năng lượng phát hiện sự tăng sinh tân tạo mạch, một đặc trưng của quá trình viêm, làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm 2D trong phát hiện tổn thương viêm MHD [43]. Những thay đổi tín hiệu Doppler tương ứng với mức độ tăng sinh mạch rất nhạy với các thay đổi của phản ứng viêm và phản ánh chính xác nhất mức độ viêm khớp nên ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đánh giá mức độ hoạt động bệnh cũng như ứng dụng theo dõi sau các liệu pháp điều trị [11].

Hình ảnh X-quang qui ước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Phù nề tổ chức phần mềm quanh khớp: là do hậu quả của viêm bao hoạt dịch cấp. Mất chất khoáng phần đầu xương cạnh khớp: gây ra do ít vận động và xung huyết từng vùng xương, có thể còn có vai trò của các cytokin viêm. Các bè xương thô, vỏ xương trở nên mỏng và xương tăng thấu quang. Tổn thương bào mòn xương: là những tổn thương dạng khuyết xuất hiện tại bờ rìa khớp, bề mặt khớp hoặc tổn thương dạng giả nang (hình hốc trong xương).

Tổn thương bào mòn xương được coi là tổn thương đặc hiệu trong bệnh VKDT, là một trong các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh theo ACR. Hẹp khe khớp: là tình trạng khoảng cách giữa các khe khớp bị hẹp lại. Đây là triệu chứng phổ biến, gây nên bởi sự phá hủy sụn khớp. Hẹp khe khớp trong VKDT có dấu hiệu đặc trưng là khe khớp hẹp đồng đều, mép vỏ xương dưới sụn còn nguyên vẹn, điều này giúp phân biệt với viêm khớp nhiễm khuẩn.

Sau một thời gian tiến triển kéo dài tình trạng hủy hoại đầu xương, sụn khớp ngày càng nặng nề, tổ chức xơ phát triển dần dần thay thế tổ chức viêm dẫn đến dính và biến dạng khớp. Trên Xquang biểu hiện là những tổn thương hủy đầu xương, khe khớp hẹp nham nhở, dính khớp, bán trật khớp, lệch trục khớp.2: Hình ảnh bào mòn xương X-quang bàn tay BN VKDT [18] Cộng hưởng từ khớp tổn thương [17] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Kết quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng Infliximab và Methotrexate tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp bằng sự kết hợp giữa Infliximab và Methotrexate. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ kết quả điều trị mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của liệu pháp, từ đó giúp các bác sĩ và bệnh nhân có cái nhìn rõ hơn về lựa chọn điều trị này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Kết quả điều trị viêm khớp dạng thấp bằng tocilizumab phối hợp methotrexat tại bệnh viện trung ương thái nguyên, nơi trình bày một phương pháp điều trị khác cũng được áp dụng tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu tình hình đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng yếu tố liên quan và kết quả điều trị đợt cấp ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại bệnh viện đa khoa thành phố cần thơ năm 2018 2019 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố lâm sàng liên quan đến bệnh. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp, từ đó hỗ trợ trong việc đưa ra quyết định điều trị hiệu quả.