MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Để tiến hành quá trình sản xuất cần có ba yếu tố đó là tư liệu sản xuất, đối tượng lao động và lao động. Trong đó lao động là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định. Tiền lương là số tiền người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả cho người lao động khi họ cung ứng sức lao động theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng lao động (Luật Lao động, 2012).
Gắn với tiền lương là các khoản trích theo lương bao gồm các khoản bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và kinh phí công đoàn (KPCĐ). Các chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương đã được Nhà nước ban hành song nó được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh và tính chất công việc của các doanh nghiệp đó. Tiền lương có vai trò quan trọng đối với người lao động và cả doanh nghiệp. Tiền lương có tác dụng bù đắp lại sức lao động cho người lao động.
Đồng thời, tiền lương cũng có tác dụng to lớn trong động viên khuyến khích người lao động yên tâm làm việc. Thực tế hiện nay tiền lương được coi như một thước đo chủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp. Vì thế, người lao động rất tự hào về mức lương cao, muốn được tăng lương. Đối với doanh nghiệp, tiền lương được coi là một bộ phận của chi phí sản xuất.
Vì vậy, chi cho tiền lương là chi cho đầu tư phát triển. Hay tiền lương là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp công bằng và hợp lý sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động của mình. Đầu năm 2020 các nước trên thế giới phải đối mặt với đại dịch Covid-19 1 gây nên nhiều thiệt hại về mọi mặt.
Có nhiều công ty lớn thông báo cắt, giảm tiền lương, lao động do sản xuất bị thu hẹp hoặc không đảm bảo việc làm do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Theo ông Trịnh Khôi Nguyên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, cũng như nhiều ngành nghề khác, dịch bệnh COVID-19 tác động đến ngành thép trong nước ở cả chiều sản xuất và tiêu thụ. Nhiều công trình xây dựng trong nước, ngoài nước sử dụng thép bị trì trệ, khiến cho nhu cầu sử dụng thép giảm so với cùng kỳ năm trước.Công ty Cổ phần Thép Tuấn Cường Cường là Công ty Cổ phần tráng mạ kẽm kim loại được thành lập ngày 09 tháng 12 năm 2002. Đến năm 2009 đổi tên thành Công ty cổ phần Thép Tuấn Cường với ngành nghề sản xuất kinh doanh (SXKD) chính là các mặt hàng về sắt thép.
Là một doanh nghiệp vừa và nhỏ, để phù hợp với mô hình SXKD và tiết kiệm về chi phí, tận dụng tối đa nguồn lao động thì hiện tại công ty sử dụng lao động thời gian và lao động khoán. Hiện nay, vấn đề sử dụng lao động thế nào cho phù hợp, mức thu nhập cho người lao động là bao nhiêu để hoạt động SXKD có hiệu quả và đảm bảo cuộc sống, việc làm cho người lao động là một vấn đề được doanh nghiệp quan tâm. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên em quyết định chọn đề tài “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Cổ phần Thép Tuấn Cường” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Công ty cổ phần thép Tuấn Cường, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty 1.2 Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu tổng quan về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương - Tìm hiểu thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Công ty cổ phần thép Tuấn Cường 2 - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Công ty cổ phần thép Tuấn Cường 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Công ty cổ phần thép Tuấn Cường 1.2 Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Nghiên cứu công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Công ty cổ phần thép Tuấn Cường. Địa chỉ là Khu công nghiệp Đình Trám, Xã Hoàng Ninh, Huyện Việt Yên, Bắc Giang.
Về thời gian thực tập: Từ ngày 10 tháng 9 năm 2020 đến ngày 11 tháng 1 năm 2021. Thời gian nghiên cứu: Số liệu sử dụng trong nghiên cứu các năm: 2017, 2018,2019,2020. Phạm vi nội dung: Nghiên cứu công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thép Tuấn Cường. Cụ thể là tìm hiểu về chính sách tiền lương, cách tính lương, trả lương và các khoản trích theo lương của Công ty, công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương để từ đó đánh giá công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của Công ty.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan tài liệu 2.1 Khái niệm lao động Lao động là sự hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của con người. Để duy trì đời sống, con người phải luôn lao động để thu lấy tất cả những thứ trong tự nhiên cần thiết vĩnh viễn cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người (GS.NGND Ngô Thế Chi và các cộng sự, giáo trình kế toán tài chính, 2013).2 Phân loại lao động Việc phân loại người lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch lao động, phục vụ trực tiếp cho việc tính toán, lập dự toán cho chi phí lao động trực tiếp, gián tiếp. Có nhiều tiêu chuẩn phân loại theo mục đích, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau trong từng loại hình doanh nghiệp. Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng như của từng bộ phận trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
- Lao động trực tiếp: gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. - Lao động gián tiếp: Gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp như nhân viên phân xưởng, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp. Phân loại lao động trong doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc nắm bắt thông tin về số lượng và thành phần lao động, về trình độ nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện quy hoạch lao động, lập kế hoạch lao động. Mặt khác, thông qua phân loại 4 lao động trong toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chi phí nhân công trong chi phí SXKD, lập kế hoạch quỹ lương và thuận lợi cho việc kiểm tra tình hình thực hiện các kế hoạch và dự toán này.3 Các khái niệm về tiền lương và các khoản trích theo lương 2.1 Khái niệm về tiền lương Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động.
Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung tiền lương được biểu hiện một cách thống nhất như sau: “Về thực chất, tiền lương dưới chế độ chủ nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối kế hoạch cho công nhân viên chức, phù hợp với số lượng, chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc chi trả cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân phối lao động nhằm tái sản xuất sức lao động”. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế cũng tạo nên sự thay đổi trong nhận thức về tiền lương “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.
Tiền lương là số tiền người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả cho người lao động khi họ cung ứng sức lao động, theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận hợp pháp của các bên trong hợp đồng lao động. Tiền lương được trả theo năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công việc nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Trên thực tế, khái niệm "tiền lương" còn có thể hiểu theo nghĩa rộng, như khái niệm thu nhập của người lao động, bao gồm tiền lương cơ bản, các khoản tiền phụ cấp lương và tiền thưởng. Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là giá cả sức lao động, chịu sự chi phối của tương 5 quan cung-cầu lao động trên thị trường.
Tiền lương của người lao động làm công do các bên thỏa thuận, căn cứ vào công việc, điều kiện của các bên và kết quả lao động nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu ( Bộ Luật Lao động, 2012). Như vậy, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động dựa trên cơ sở số lượng, chất lượng mà họ bỏ ra. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sử dụng phương pháp trả lương 3P để tối ưu hóa cơ chế trả lương, đơn giản trong quản trị nhân lực và công bằng với tất cả mọi người. 3P bao gồm: POSITION – PERSON – PERFORMANCE.
+ Pay for Position – Trả lương theo vị trí. + Pay for Person – Trả lương theo cá nhân. + Pay for Performance – Trả lương theo hiệu quả, kết quả hoàn thành công việc. Theo cơ chế trả lương này doanh nghiệp sẽ đảm bảo công bằng nội bộ, công bằng bên ngoài và tạo động lực phát triển doanh nghiệp.