Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Xây Dựng Vương Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Xây Dựng Vương Nam.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận chung về tiền lương và các khoản trích theo lương 1.
Khái niệm về tiền lương Tiền lương có ý nghĩa rất quan trọng với mỗi doanh nghiệp, tiền lương là phần chi phí trả cho người lao động qua sự cống hiến sức lực và trí lực của họ cho doanh nghiệp nhằm tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Tuy nhiên, trong thực tế thì có rất nhiều khái niệm đưa ra các cách hiểu khác nhau về tiền lương như sau: Theo Công ước số 95 về bảo vệ tiền lương 1949, Điều 01: “Trong Công ước này, thuật ngữ “tiền lương” là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Theo Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 –Khoản 1, Điều 90: “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Khái niệm tiền lương theo “Giáo trình Kế toán tài chính” (Nguyễn Quỳnh Hoa –Nhà xuất bản Tài chính, 2020) – Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM thì: “Tiền lương, tiền công là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp cho doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho người lao động đủ để tái sản xuất sức lao động và nâng cao, bồi dưỡng sức lao động.
Bản chất của tiền lương Khi nghiên cứu tiền lương trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mac chỉ rõ, về bản chất, tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả lao động. Tiền lương là một phạm trù gắn với phạm trù lao động. Song lao động là một 7 phạm trù vĩnh viễn, còn tiền lương là phạm trù lịch sử, nó ra đời tồn tại và phát triển trong nền kinh tế hàng hoá. Tiền lương là một hình thức trả công lao động.Trong nền kinh tế thị trường để đo lường hao phí lao động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm người ta có thể sử dụng thước đo tiền tệ thông qua việc trả lương.
Bản chất của tiền lương cũng thay đổi tùy theo các điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người. Trước đây, tiền lương thường được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Giờ đây, với việc áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào trong các doanh nghiệp, tiền lương không phải đơn thuần chỉ là giá cả sức lao động nữa. Quan hệ giữa người chủ sử dụng sức lao động và người lao động đã có những thay đổi căn bản chuyển từ hình thức bóc lột, mua bán hàng hóa sang hình thức quan hệ hợp tác song phương, đôi bên cùng có lợi.
Chức năng của tiền lương Chức năng thước đo giá trị: Tiền lương được xem như là mức giá của công sức lao động, nó thể hiện giá trị của công sức lao động dưới hình thức tiền tệ. Do đó, tiền lương cần phải đo lường và phản ánh chính xác giá trị của công sức lao động. Đây là một trong những vai trò quan trọng của tiền lương. Để thực hiện vai trò này, việc xác định mức lương cần phải dựa trên giá trị thực tế của công sức lao động.
Đồng thời, việc xác định chính xác giá trị của công sức lao động là một vấn đề phức tạp và khó khăn. Khi giá trị công sức lao động biến đổi, tiền lương cũng cần phải điều chỉnh để phản ánh đúng giá trị đó. Vì giá trị công sức lao động thường có xu hướng tăng theo thời gian, nên tiền lương cũng cần phải tăng theo. Chức năng tái sản xuất sức lao động: Trong quá trình lao động sức lao động của con người bị tiêu hao.
Để duy trì quá trình lao động tiếp theo con người phải tiêu phí một số tư liệu sinh hoạt nhất định. Tái sản xuất sức lao động chính là khôi phục lại sức lao động đã mất. Trong điều kiện khi nguồn sống chủ yếu bằng lương thì tiền lương phải đủ để người lao động mua sắm các tư liệu sinh hoạt cần thiết hay giá trị tư liệu sinh họat do người lao động mua sắm phải ít nhất ngang bằng giá trị sức lao động đã hao phí. Nếu không thực hiện 8 chức năng này, sức lao động hay khả năng làm việc của người lao động ngày càng bị giảm sút, sức khỏe của người lao động ngày càng bị suy sụp và sẽ tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất.
Chức năng kích thích sản xuất: Tiền lương không chỉ đóng vai trò trong việc tái tạo công sức lao động mà còn phải khơi gợi sự sản xuất. Điều này yêu cầu người quản lý phải dùng tiền lương như một công cụ kinh tế để thúc đẩy sự phát triển. Để tiền lương có thể thực hiện chức năng này, tiền lương phải đủ để người lao động có thể trang trải các chi phí cá nhân và việc trả lương cần được tổ chức tốt để phân biệt giữa người lao động làm việc tốt và không tốt. Tiền lương có hai khía cạnh: Tích cực và tiêu cực.
Khi khía cạnh tích cực của tiền lương - Khơi gợi sự sản xuất bị giới hạn. Khía cạnh tiêu cực sẽ nổi lên và tiền lương sẽ trở thành yếu tố cản trở sự phát triển của sản xuất. Chức năng tích lũy: Tiền lương không chỉ dùng để chi tiêu trong quá trình làm việc mà còn được dành dụm như một phương án dự phòng cho những tình huống không may khi người lao động không thể làm việc nhưng vẫn cần tiêu dùng. Việc dành dụm là một yêu cầu khách quan đối với người lao động.
Theo nguyên tắc, người lao động chỉ có thể dành dụm khi họ không tiêu hết tiền lương của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, tiền lương của hầu hết người lao động không đủ để chi tiêu, do đó họ không có khả năng dành dụm. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn yêu cầu người lao động phải dành dụm thông qua việc đóng góp vào bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bắt buộc. Việc tiền lương không thể thực hiện chức năng dành dụm một cách chủ động đã tạo ra nhiều khó khăn cho những người gặp phải tình huống không may hoặc những người đã nghỉ hưu, do đó dẫn đến tình trạng một số người lao động đã tự tìm cách dành dụm, kể cả những biện pháp không tích cực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp Có nhiều yếu tố tác động đến mức lương của người lao động. Việc nắm bắt những yếu tố này có thể hỗ trợ cả người sở hữu doanh nghiệp và người lao động đàm 9 phán mức lương công bằng và phù hợp. Sau đây là một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức lương của nhân viên: Ngày công, giờ công: Số ngày công và giờ công làm việc trong một tháng cụ thể sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến mức lương. Nếu người lao động làm việc nhiều hơn, họ sẽ nhận được nhiều tiền lương hơn.
Cấp bậc, chức danh: Cấp bậc và chức danh thường phản ánh trách nhiệm và kỹ năng của người lao động. Những người ở cấp bậc cao hơn hoặc có chức danh quan trọng hơn thường nhận được mức lương cao hơn. Số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành: Đối với những công việc được trả lương dựa trên sản phẩm, số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức lương. Độ tuổi, sức khỏe: Độ tuổi và sức khỏe có thể ảnh hưởng đến khả năng làm việc và năng suất lao động, từ đó ảnh hưởng đến mức lương.
Trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp: Những doanh nghiệp sử dụng trang thiết bị hiện đại và kỹ thuật công nghệ tiên tiến thường có năng suất lao động cao hơn, từ đó có thể trả lương cao hơn cho người lao động. Hình thức tiền lương, quỹ tiền lương và các khoản trích theo lương 1. Hình thức trả lương theo thời gian Là hình thức trả lương cho người lao động được tính trên cơ sở thời gian làm việc thực tế và trình độ thành thạo nghề nghiệp của họ. Hình thức này được sử dụng cho những người thực hiện công việc quản lý, trong khi đối với công nhân sản xuất trực tiếp, nó chỉ được áp dụng cho những bộ phận chủ yếu sử dụng máy móc hoặc những công việc không thể xác định mức lương một cách chính xác và nghiêm ngặt.
Khi sử dụng phương pháp này, các doanh nghiệp sẽ tuỳ chỉnh mức lương cho người lao động dựa trên tình hình cụ thể, sao cho vừa đảm bảo hiệu suất lao động mà không gây lãng phí, ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của doanh nghiệp. Để trả lương theo thời gian căn cứ vào 3 yếu tố: Ngày công thực tế của người lao động 10 Đơn giá tiền lương tính theo ngày công Hệ số tiền lương (hệ số cấp bậc công việc) Công thức tính: Tiền lương tháng: Tiền Tiền lương tối thiểu × (Hệ số lương hệ + Số phụ cấp) Số ngày làm lương = × Số ngày làm việc theo quy định việc thực tế tháng Tiền Tiền lương tháng lương = Số ngày làm việc trong tháng ngày Số ngày làm việc theo quy định là 26 ngày Ưu điểm: Tạo động lực làm việc cho người lao động, nâng cao trình độ quản lý của họ. Nhược điểm: Không gắn thu nhập của người lao động với kết quả lao động mà họ đã làm ra. Mang tính chất bình quân chủ nghĩa, không khuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc.
Hình thức trả lương theo thời gian được chia thành tiền lương tính theo thời gian giản đơn và tính theo thời gian có thưởng. Trả lương theo thời gian giản đơn.