CHƯƠNG 1: NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN THUẾ GTGT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề lý luận chung về kế toán thuế GTGT 1. Tổng quan về thuế GTGT 1. Khái niệm GTGT là giá trị tăng thêm của một sản phẩm hàng hóa dịch vụ do cơ sơ sản xuất, chế biến, thương mại hoặc dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh) tác động vào nguyên liệu thô hay hàng hóa, dịch vụ mua vào làm cho giá trị của chúng tăng thêm.
Nói cách khác, đây là chênh lệch giữa giá đầu ra và giá đầu vào do cơ sở kinh doanh tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hay đó là phần giá trị tăng thêm của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phát triển trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Từ khái niệm về GTGT, chúng ta có thể có khái niệm về thuế GTGT như sau: Thuế GTGT là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất,lưu thông đến người tiêu dùng. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên ban hành luật thuế GTGT vào năm 1954.
Vai trò và đặc điểm của thuế GTGT * Vai trò của thuế GTGT: Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ 3 chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau: - Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước. - Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa. - Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao.
- Thuế giá trị gia tăng thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng. - Nâng cao tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người nộp thuế. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu trữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh, từ đó tập trung được nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào Ngân sách Nhà nước ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau, còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được thất thu về thuế. * Đặc điểm của thuế GTGT: Thuế GTGT là thuế gián thu: Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ; người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp: Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mối giai đoạn. Vì vậy, tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. 4 Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao thể hiện ở các khía cạnh: Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng của kết quả kinh doanh của người nộp thuế Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập: Nếu so sánh số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngược lại Thuế GTGT đem lại nguồn thu thường xuyên và chủ yếu cho NSNN 1. Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế * Đối tượng chịu thuế: Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam ( bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT.
Như vậy, đối tượng chịu thuế GTGT có phạm vi rộng, bao quát được tất cả các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước. * Đối tượng nộp thuế Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh ( gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT từ nước ngoài( gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế 5 Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm: Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng kí kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật hợp tác xã Các tổ chức kinh tế của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chắc xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt nam không thuộc các hình thức đầu tư theo luật đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất kinh doanh nhập khẩu Tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế 1. Đối tượng không chịu thuế GTGT Theo quy định tại điều 4- Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT và nghị định số 209/2013/NCC-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ thì có 26 nhóm hàng hóa dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT (Phụ lục 01, trang 1) 1. Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất 6 a.
Giá tính thuế Là căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp, là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng, người cung cấp dịch vụ. Đối với hàng hóa chịu thuế hang hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT Theo quy định tại Điều 7 – Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT thì giá tính thuế GTGT được quy định như sau: 1. Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; 2.
Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu. Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu tặng cho là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này; 4. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị gia tăng; Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng thời kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế giá trị gia tăng; 7 Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài.
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm; 6. Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng; 7. Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị; 8.
Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước; 9. Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa và dịch vụ hưởng hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị gia tăng; 10. Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau: Giá thanh toán Giá chưa có thuế giá trị gia tăng = 1 + thuế suất của hàng hóa, dịch vụ (%) Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng. 8 Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam.
Trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.