CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 1.1 Tổng quang về Kế toán quản trị 1.1 Khái niệm Kế toán Quản trị Theo khoản 10 - điều 3 - Luật kế toán Việt Nam năm 2015, kế toán quản trị “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán, 2015). Theo định nghĩa của Viện kế toán Hoa Kì công bố 1982 thì kế toán quản trị (Management Accounting) “Là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện mục đích của tổ chức. Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên quản lý là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998: “Kế toán quản trị được xem như một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”.
Theo Hilton, kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức. Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton,1991). Kế toán quản trị chủ yếu định hướng việc sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ của tổ chức để phục vụ cho việc quản lý hoạt động của các nhà quản lý bên trong tổ chức. Hoàng Thị Như Quỳnh – K49C Kế Toán 5 GVHD: Th.s Phạm Thị Hồng Quyên Cùng với kế toán tài chính, kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vai trò của kế toán quản trị ngày càng được khẳng định, được xem như là một trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp.2 Bản chất của Kế toán Quản trị Kế toán quản trị không chỉ thu nhập, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá khứ được ghi chép một cách hệ thống hóa trong sổ kế toán mà còn phân tích và xử lý để cung cấp các thông tin thích hợp phục vụ cho việc ra quyết định quản trị. Thông tin được phân tích và xử lý dựa vào các công cụ quản lý, phương tiện tính toán nhằm tăng cường tính linh hoạt, kịp thời, hữu hiệu và khả thi của quy trình quản lý. Hệ thống hoá các thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp.
Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, bộ phận và các nhà điều hành, quản lý doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài. Vì vậy người ta nói kế toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản trị, trong khi đó kế toán tài chính không phục vụ trực tiếp mục đích này. Hoàng Thị Như Quỳnh – K49C Kế Toán 6 GVHD: Th.s Phạm Thị Hồng Quyên 1.3 Sự khác nhau giữa Kế toán Quản trị và Kế toán Tài chính Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa Kế toán Quản trị và Kế toán Tài chính Kế toán Quản trị Kế toán Tài chính Mục đích Cung cấp thông tin nhằm tạo Đưa ra các thông tin dịch vụ điều lập báo cáo tài chính hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Giới hạn của Có mối liên hệ đến việc quản lý Liên quan đến việc quản lý trên thông tin tài chính trên quy mô toàn công từng bộ phận (phòng ban, phân ty xưởng) cho đến từng cá nhân có liên quan. Đối tượng Là nhà quản lý doanh nghiệp Là nhà quản lý công ty phục vụ và các đối tượng ngoài doanh nghiệp: Ngân hàng, cơ quan thuế… Đặc điểm Phản ánh các thông tin xảy ra Nhấn mạnh đến sự linh hoạt của số trong quá khứ đòi hỏi có phải liệu.
Thông tin được phân tích theo tính khách quan. Được theo dõi các phần khác nhau. Phản ánh sự dưới hình thái giá trị biến động có tính dự báo, nhằm đánh giá và xây dựng kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Tính bắt Có tính bắt buộc: sổ sách báo Không có tính bắt buộc buộc theo cáo của kế toán tài chính ở mọi luật định công ty đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì các báo cáo đó sẽ không được chấp nhận Kỳ báo cáo Quý, năm Theo Quý, năm, tháng, tuần, ngày Hoàng Thị Như Quỳnh – K49C Kế Toán 7 GVHD: Th.s Phạm Thị Hồng Quyên Quan hệ với Sự liên quan đối với các môn Với mục đích giúp cho việc quản các môn khoa học là khá ít lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống khoa học ghi chép ban đầu của kế toán tài khác chính thì kế toán quản trị bắt buộc phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, tổ chức quản lý doanh nghiệp, thống kê kinh tế, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.4 Mục tiêu của Kế toán Quản trị Hệ thống thông tin kế toán quản trị trong tổ chức có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để thực hiện các hoạt động quản lý. Kế toán quản trị có bốn mục tiêu chủ yếu sau: - Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định - Trợ giúp nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức - Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ chức - Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong tổ chức.2 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí 1.1 Khái niệm của kế toán quản trị chi phí Theo Haberstock (1982), kế toán quản trị chi phí kinh doanh là tính toán hướng nội, nó mô tả - về nguyên tắc được thực hiện hàng tháng – đường vận động các nhân tố sản xuất trong quá trình kết hợp chúng và giới hạn ở việc tính toán mọi hao phí nhằm tạo ra và thực hiện các kết quả của doanh nghiệp, đó chính là chi phí kinh doanh.
Hoàng Thị Như Quỳnh – K49C Kế Toán 8 GVHD: Th.s Phạm Thị Hồng Quyên Kế toán quản trị chi phí quan tâm đến việc lập dự báo của thông tin và trách nhiệm của nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí phát sinh qua hệ thống trung tâm chi phí được cung cấp bởi các trung tâm chi phí trong doanh nghiệp. KTQT chi phí sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào khi có sự thay đổi của một số nhân tố nào đó, trách nhiệm giải thích những nhân tố bất lợi của chi phí thuộc về ai và các giải pháp đưa ra để điều chỉnh sự thay đổi chi phí đó một cách kịp thời. (Huỳnh Lợi, 2007) Như vậy, kế toán quản trị chi phí không nhận thức chi phí theo quan điểm của KTTC, kế toán chi phí mà nó mang nặng bản chất của KTQT. KTQT chi phí được nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng như cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là công cụ quản lý giúp nhà quản trị thực hiện chức năng.
Theo từng chức năng quản lý, kế toán quản trị có vai trò như sau: - Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và dự toán: thông qua việc cung cấp thông tin về định mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất, dự toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. - Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch: các thông tin về chi phí của từng hoạt động để kiểm tra việc thực hiện. - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá: các báo cáo hoạt động theo từng khâu công việc, báo cáo so sánh kết quả với kế hoạch. - Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định thông qua việc tổng hợp, phân loại thông tin.3 Công việc của kế toán quản trị chi phí Xuyên suốt quá trình kinh doanh, sản xuất công tác Kế toán quản trị đều có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp cũng như các quyết định của Ban điều hành.
Công việc của một Kế toán viên quản trị chi phí bao gồm: Lập kế hoạch và dự toán chi phí: Hoàng Thị Như Quỳnh – K49C Kế Toán 9 GVHD: Th.s Phạm Thị Hồng Quyên Đây là một chức năng cơ bản của kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng. Việc lập kế hoạch bao gồm hai vấn đề: xác định mục tiêu cụ thể và xây dựng các phương thức để đạt được mục tiêu đó. Trong đó, việc lập dự toán chi phí giữ vai trò vô cùng quan trọng vì nó là cơ sở định hướng, chỉ đạo mọi hoạt động cũng như phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận; dự toán còn là cơ sở để kiểm soát các nội dung chi phí cũng như nhiệm vụ của từng bộ phận. Như vậy, dự toán rất cần thiết để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của các tổ chức; các số liệu điều tra cho thấy rằng hầu hết các tổ chức có quy mô vừa và lớn trên toàn thế giới đều lập dự toán (Horngren et al.
Để thực hiện chức năng này, kế toán quản trị chi phí phải tổ chức thu thập thông tin để lập dự toán bao gồm thông tin về tổ chức, chi phí định mức, chi phí tiêu chuẩn, các thông tin kế toán tài chính, thống kê cũng như kỹ thuật tính toán, ước tính phục vụ cho việc lập dự toán ở doanh nghiệp. Tổ chức thực hiện: Quá trình tổ chức thực hiện được định hướng bởi kế hoạch và dự toán đã được lập.