CHƯƠNG 1 Chương này trình bày tổng quan về các nghiên cứu đối với các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp qua những nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu đồng thời giúp cho người đọc nắm được bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến đề tài mà tác giả thực hiện. Ngoài ra, chương này cũng trình bày điểm khác biệt của đề tài với các nghiên cứu trước đây. Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất tỉnh Bình Dương” trong điều kiện hiện nay vẫn còn là mộtvấn đề mới, tác giả sẽ kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính là định lượng để tiến hành nghiên cứu của mình. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí 2.1 Khái niệm chi phí trong doanh nghiệp sản xuất a.
Quan điểm về chi phí Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải sử dụng và làm tiêu hao các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, lao động, tài sản cố định,. hay còn gọi là nguồn lực kinh tế của một doanh nghiệp. Sự tiêu hao các yếu tố đầu vào hình thành nên chi phí. Chi phí lại chính là kết quả của các quyết định quản trị nhằm đáp ứng những yêu cầu kinh doanh, và kết quả, hiệu quả hoạt động gắn liền với kết quả, hiệu quả của quản lý và kiểm soát chi phí.
Việc nhận thức chi phí là tiền đề để kiểm soát và định hướng hoạt động SXKD. Chi phí được xem là một khái niệm cơ bản nhất của bộ môn kế toán, của việc kinh doanh và trong kinh tế học. Theo VAS 01: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Cách tiếp cận theo quan điểm chi phí của chuẩn mực kế toán cho thấy chi phí là nhữngphí tổn phát sinh làm giảm nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp đang kiểm soát gắn liền với hoạt động SXKD và tác động giảm vốn chủ sở hữu (không phải do hoàn trả vốn) (Huỳnh Lợi, 2009).
Tác giả định hướng và nhấn mạnh chi phí trong nghiên cứu này hướng về chi phí trong KTQT, khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Nghĩa là, chi phí có thể là phí tổn thực tế chi ra trong quá trình hoạt động và cũng có thể là chi phí ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác.Chi phí vận động trong doanh nghiệp sản xuất: DNSX là một thực thể kinh tế, thực hiện quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ với mục đích thu lợi nhuận. Ba hoạt động chính trong DNSX là (1) sản xuất bao gồm các 15 quy trình chế tạo sản phẩm để từ đó tạo ra sản phẩm cung ứng cho nhu cầu thị trường; (2) bán hàng bao gồm các hoạt động cần thiết đế tiêu thụ sản phẩm; (3)quản lý hành chính bao gồm các hoạt động liên kết các hoạt động sản xuất với hoạt động bán hàng và các hoạt động khác phát sinh tại doanh nghiệp. Quy trình vận động chi phí trong DNSX gắn liền với việc mua nguyên liệu, vật liệu từ các DNSX khác hoặc từ các doanh nghiệp thương mại để đưa vào sản xuất, kết hợp với các yếu tố khác trong sản xuất để tạo ra thành phẩm cung ứng cho thị trường.
Quy trình đó, đến cuối kỳ, tạo nên một phần nguyên liệu tồn kho, thành phẩm tồn kho được thể hiện trên bảng cân đối kế toán và một phần thể hiện dưới hình thức giá vốn hàng tiêu thụ được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2014). Phân loại chi phí Chi phí có thể được phân loại theo các tiêu chí như: + Phân loại chi phí theo chức nâng hoạt động nhằm xác định rõ vai trò, chức năng của chi phí trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Theo đó, chi phí được phân thành:Chi phí sản xuất; Chi phí ngoài sản xuất. +Phân loại theo mối quan hệ với Báo cáo tài chính cho thấy quá trình vận động của chi phí qua các giai đoạn khác nhau của quá trình SXKD.
Theo đó chi phí được phân thành:Chi phí sản phẩm; Chi phí thời kỳ. +Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí có mối liên hệ với mặt kỹ thuật hạch toán gồm: Chi phí trực tiếp; Chi phí gián tiếp. +Phân loại chi phỉ theo cách ứng xử của chi phí đối với mức độ hoạt động nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị khi thay đổi mức độ hoạt động của mình thì mức chi phí sẽ ảnh hưởng như thế nào? làm cơ sở cho các quyết định quản trị trong ngắn hạn. Theo cách phân loại này, chi phí được phàn thành 3 loại là định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp.
+Phân loại chi phí theo mức độ kiểm soát của nhà quản lý. Cách phân loại này nhằm mục đích đánh giá trách nhiệm quản lý của các bộ phận. Người phụ trách bộ phận chỉ phải chịu trách nhiệm đối với chi phí kiểm soát được và không chịu trách nhiệm đối với chi phí không thể kiểm soát. Theo đó chi phí được phân thành:Chi phí 16 kiểm soát được; Chi phí không kiểm soát được.
+Phân loại chi phí theo sự ảnh hướng tới việc ra quyết định cho hoạt động trong tương lai.Để xác định thông tin thích hợp phục vụ cho việc lựa chọn các hoạt động trong tương lai, nhà quản trị xem xét đến các loại chi phí: Chi phí chênh lệch; Chi phí cơ hội; Chi phí chìm. Từ sự phân tích trên, tác giả cho rằng việc tổ chức nhận diện và phân loại chi phí như thế nào là phụ thuộc vào nhu cầu cung cấp thông tin về chi phí của nhà quản trị. Việc phân loại chi phí chính là bước đầu tiên xác định cách thức để thu nhận được các thông tin đó. Căn cứ vào các mục đích thu nhận thông tin khác nhau của nhà quân trị.
chi phí trong doanh nghiệp có thể đồng thời được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Trong điều kiện tin học hóa kế toán, việc đồng thời phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau hoàn toàn có thể thực hiện được. Mỗi tiêu thức phân loại là một trường thông tin và các trường thông tin này được thiết kế song song với nhau. Chi phí phát sinh sẽ được thu nhận vào các trường thông tin đó và được xử lý để cung cấp thông tin theo các yêu cầu khác nhau của nhà quản trị.2 Khái niệm về quản trị chi phí Đã có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị chi phí.
Trong từ điển kinh tế học (2012): “Quản trị chi phí là việc tập hợp, phân bổ và tính toán mọi chi phí phát sinh”. Theo Abdel-Kader (2008) thì: “Quản trị chi phí là việc tính toán hướng nội, nó theo đuổi việc mô tả đường vận động các nhân tố sản xuất trong quá trình kết hợp chúng và giới hạn ở việc tập hợp, tính toán mọi hao phígắn với việc tạo ra và thực hiện các kết quả hoạt động”. (2012) định nghĩa: “Quản trị chi phí phục vụ cho việc tập hợp và tính toán các chi phí của kết quả được tạo ra trong sản xuất kinh doanh”. Trên cơ sở các khái niệm đã có có thể định nghĩa: Quản trị chi phí là việc tập hợp, tính toán và kiểm soát các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp các thông tin chi phí cần thiết cho công việc quản trị của một doanh nghiệp.
Nhà quản trị chi phí không đơn giản là người ghi chép các thông tin về chi phí mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các quyết định quản trị để có thể 17 cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt nhất với chi phí thấp nhất. Như vậy, để tồn tại trong môi trường kinh doanh cạnh tranh, doanh nghiệp phải tự cân đối giữa đầu vào và đầu ra, tìm hiểu nhu cầu thị trường và tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận, nhu cầu thông tin cho quản trị chi phí do vậy mà trở thành một điều tất yếu không thể thiếu được trong tất cả các quyết định quản trị điều hành doanh nghiệp. Michael (2011) đã chỉ ra tầmquan trọng của việc sử dụng thông tin chi phí để cải thiện hiệu suất ra quyết định của nhà quản trị. Nhà quản trị cần phải nắm được các thông tin về chi phí và cách thức làm sao để có chúng, các thông tin chi phí có thể được cung cấp cho mục tiêu xác định giá phí sản phẩm, dịch vụ hay mục tiêu quản trị chi phí tùy theo nhu cầu của nhà quản trị các cấp.
+ Nhà quản trị cấp cơ sở (tổ/ đội trưởng) là cấp sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm hay thực hiện dịch vụ cho khách hàng thì cần thông tin chi phí về kết quả từng lần sản xuất, từng đơn hàng, từng giai đoạn mang tính thực tế, thườngxuyên, cụ thể, chi tiết. để điều phối nguồn lực và phối hợp với các bộ phận khác trong và ngoài đơn vị, giúp nhà quản trị xác định được hoạt động nào tạo ra và không tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp, nhanh chóng phát hiện những yếu kém ở bộ phận trong từng giai đoạn theo khu vực sản xuất, từ đó kịp thời tác nghiệp, điều chỉnh các hoạt động thường xuyên và phân phối lại nguồn lực nhằm đạt hiệu quả tối ưu. + Nhà quản trị cấp trung (trưởng phòng, ban.) là cấp giám sát công việc và đưa ra các quyết định có tính chiến lược về hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, khách hàng,. thì cần thông tin ở mức tổng hợp thông qua báo cáo biến động giữa chi phí thực tế so với dự toán để nhận biết được dấu hiệu cảnh báo tình hình tích cực, tiêu cực và những nguyên nhân ảnh hưởng để đưa ra các phương pháp kiểm soát, các giải pháp điều chỉnh và đánh giá đúng đắn về trách nhiệm của nhà quản trị các cấp, qua đó khuyến khích tạo động lực cho người lao động bằng các chính sách khen thưởng kịp thời.