lời mở đầu và kết luận, kết cấu của khóa luận gồm 3 chƣơng nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Thƣơng mại VIC. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Thƣơng mại VIC. Sinh viên: Vũ Thị Yến – QTL601K 2 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất Chi phí là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền với sản xuất và lƣu thông hàng hóa. Đó là những hao phí lao động xã hội đƣợc biểu hiện bằng tiền trong quá trình hoạt động kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp là tất cả các chi phí phát sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình hình thành, tồn tại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo ra sản phẩm đến khi tiêu thụ sản phẩm. Chi phí sản xuất kinh doanh nói chung là toàn bộ các chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác đƣợc biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong một thời kỳ nhất định.
Các chi phí của doanh nghiệp luôn đƣợc tính toán đo lƣờng bằng tiền và gắn với một thời gian xác định là tháng, quý, năm. Nhƣ vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Độ lớn của chi phí là một đại lƣợng xác định và phụ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu: một là khối lƣợng lao động và tƣ liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất trong một thời kỳ nhất định, hai là giá cả các tƣ liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm 1.
Bản chất của giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa tính cho một khối lƣợng hoặc một đơn vị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành. Giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lƣợng và hiệu quả kinh tế của các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất, cũng nhƣ phản ánh tính đúng đắn và tổ chức kinh tế, kỹ thuật – công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, hạ chi phí sản xuất và nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Giá thành còn là căn cứ để Sinh viên: Vũ Thị Yến – QTL601K 3 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng xác định giá bán từ đó phân tích tình hình kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chức năng của giá thành sản phẩm Chức năng thước đo bù đắp chi phí Giá thành sản phẩm biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Những hao phí vật chất này cần đƣợc bù đắp một cách đầy đủ, kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất. Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp, bởi hiệu quả kinh tế đƣợc biểu hiện ra trƣớc hết ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù lại những gì mình đã bỏ ra hay không. Đủ bù đắp hao phí sản xuất là khởi điểm của hiệu quả. Chức năng lập giá Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra là sản phẩm hàng hóa đƣợc thực hiện giá trị trên thị trƣờng thông qua giá cả.
Giá cả là biểu hiện mặt giá trị sản phẩm, chứa đựng trong nó nội dung bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên việc lấy giá thành làm căn cứ lập giá là một yêu cầu khách quan, vốn có trong nền sản xuất hàng hóa và đƣợc biểu hiện đầy đủ trong nền kinh tế thị trƣờng. Khi đƣợc sử dụng làm căn cứ lập giá trị thì phải loại bỏ ra khỏi giá thành những hao phí bất hợp lý, không liên hệ gì đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chức năng đòn bẩy kinh tế Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá thành sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng cƣờng doanh lợi, tạo nên tích lũy để tái sản xuất mở rộng.
Cùng với các phạm trù kinh tế khác nhƣ giá cả, lãi, chất lƣợng, thuế… giá thành sản phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cƣờng hiệu quả kinh doanh phù hợp với các nguyên tắc hạch toán kinh doanh trong điều kiện cơ chế thị trƣờng. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại với nội dung kinh tế và mục đích, công dụng khác nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra cổ phần cũng nhƣ phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải đƣợc phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Sinh viên: Vũ Thị Yến – QTL601K 4 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng 1.
Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí (nội dung kinh tế của chi phí) Theo cách phân loại này ngƣời ta sắp xếp các chi phí sản xuất có cùng nội dung kinh tế vào cùng một nhóm, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực nào, mục tiêu và tác dụng của nó ra sao. Theo đó chi phí sản xuất đƣợc phân chia thành các yếu tố chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… - Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ tiền lƣơng, phụ cấp, các khoản trích theo lƣơng theo quy định phát sinh trong kỳ. - Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải chi trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ: tiền điện, nƣớc, điện thoại… - Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài các yếu tố nêu trên.
Cách phân loại này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất dùng để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, làm căn cứ lập bản thuyết minh báo cáo tài chính (phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố), cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp phân tích tình thình thực hiện dự toán chi phí, lập dự toán chi phí cho kỳ sau. Phân loại theo khoản mục chi phí (theo công dụng kinh tế): Theo cách phân loại này những chi phí có cùng mục đích và công dụng kinh tế sẽ đƣợc xếp vào một loại gọi là các khoản mục chi phí. Có các khoản mục chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm. Khoản mục này không bao gồm những chi phí nguyên vật liệu sử dụng vào sản xuất chung và các hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí tiền lƣơng, phụ cấp và các khoản trích theo lƣơng nhƣ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, không trích vào khoản mục này số tiền lƣơng, các khoản trích theo lƣơng của công nhân sản xuất chung, nhân viên quản lý, nhân viên bán hàng. Sinh viên: Vũ Thị Yến – QTL601K 5 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng - Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các phân xƣởng, tổ đội sản xuất ngoài hai khoản mục trực tiếp nêu trên. Chi phí sản xuất chung bao gồm: Chi phí nhân viên phân xƣởng: gồm chi phí tiền lƣơng, phụ cấp và các khoản trích theo lƣơng nhƣ BHYT, BHXH, KPCĐ, BHTN của quản đốc, nhân viên phân xƣởng tại bộ phận sản xuất. Chi phí vật liệu: gồm vật liệu các loại sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xƣởng sản xuất.
Chi phí khấu hao tài sản cố định: gồm số khấu hao của tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, khấu hao của tài sản cố định thuê tài chính sử dụng ở phân xƣởng sản xuất. Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các khoản chi về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của bộ phận sản xuất. Chi phí khác bằng tiền: gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các khoản kể trên sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của bộ phận sản xuất. Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
Phân loại chi phí theo quan hệ với quá trình sản xuất - Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm hay một công việc nhất định. Những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tƣợng chịu chi phí. - Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất ra nhiểu loại sản phẩm, nhiều đối tƣợng chịu chi phí, nhiều công việc, lao vụ khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối tƣợng theo phƣơng pháp phân bổ gián tiếp. Cách phân bổ này giúp ích rất nhiều trong kỹ thuật hạch toán.