lời mở đầu và kết luận gồm 3 phần: Phần 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp. Phần 2: Thực trạng nghiệp vụ kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Sản xuất- XNK và Đầu tư (Minco. Phần 3: Một số ý kiến nhận xét và hoàn thiện nghiệp vụ kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Sản xuất- XNK và Đầu tư (Minco. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Bình Yến và các anh chị trong phòng Tài chính kế toán cùng với sự cố gắng của bản thân.
Tuy nhiên do thời gian, trình độ còn hạn chế và sự hiểu biết thực tế chưa nhiều nên báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong cách trình bày và nhận thức vấn đề. Vì vậy em rất mong và chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp chỉ bảo của thầy cô giáo bộ môn trong trường Viện Đại học Mở Hà Nội để bản khóa luận này được hoàn chỉnh hơn. Em xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Sinh viên thực hiện Vũ Thị Thêu SV: Vũ Thị Thêu 2 Lớp: K19 – KT1 PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ VAI TRÒ CỦA NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG XÂY LẮP.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh một trong những điều kiện cần thiết không thể thiếu được đó là đối tượng lao động. NVL là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hóa. Theo Các Mác tất cả mọi vật thiên nhiên ở xung quanh ta mà lao động có ích có thể tác động vào đối tượng lao động, như vậy nếu đối tượng lao động được con người tác động vào thì đối tượng đó trở thành NVL. Đồng thời Các Mác cũng chỉ ra rằng bất cứ một loại NVL nào cũng là đối tượng lao động, nhưng không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là NVL mà chỉ có trong điều kiện đối tượng thay đổi do lao động thì đối tượng đó mới là NVL.
Sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng là các công trình, hạng mục công trình có kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài, giá trị công trình lớn. Do vậy NVL dùng trong doanh nghiệp xây lắp rất đa dạng, phong phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật. Trong mỗi quá trình sản xuất, NVL không ngừng chuyển hóa biến đổi về mặt hiện vật và giá trị. Về hiện vật, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ thi công công trình, bị tiêu hao toàn bộ không giữ nguyên hình thái ban đầu.
Xét về mặt giá trị thì NVL là một bộ phận của vốn kinh doanh. Khi tham gia vào sản xuất, NVL dịch chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào giá trị của công trình mới tạo ra. Như vậy nguyên vật liệu tạo nên cả giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm mới, do đó nó là yếu tố quan trọng chủ chốt trong mọi quá trình xây lắp. Mỗi quá trình thi công xây lắp đều là sự kết hợp của ba yếu tố: đối tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động.
Vật liệu là đối tượng lao động, vì thế chúng không thể thiếu được trong quá trình thi công xây lắp. Mặt khác, trong ngành XDCB, giá trị NVL thường chiếm từ 60% đến 70% giá trị công trình. Số lượng và chất lượng công trình đều bị quyết định bởi số lượng và chất lượng NVL tạo ra nó. NVL có chất lượng cao, đúng quy cách, chủng loại phù hợp với công trình thì mới tạo ra những công trình có chất lượng cao.
Chi phí NVL thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành công trình nên việc tiết kiệm, giảm bớt chi phí tiêu hao NVL thường vẫn SV: Vũ Thị Thêu 3 Lớp: K19 – KT1 phải đảm bảo chất lượng công trình, đó là yêu cầu cấp thiết của doanh nghiệp. PHÂN LOẠI NGUYÊN VẬT LIỆU NVL sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ có vai trò công dụng khác nhau. Để có thể quản lý một cách chặt chẽ và hạch toán chi phí từng loại từng thứ nguyên vật liệu phục vụ yêu cầu quản lý doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại chúng theo những tiêu thức cố định. Có rất nhiều tiêu thức để phân loại NVL như dựa vào công dụng của nguyên vật liệu theo nguồn nhập nguyên vật liệu hoặc phân theo quyền sở hữu.
Nhưng trong thực tế của công tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp, đặc trưng dùng để phân loại NVL thông dụng nhất là vai trò và tác dụng của NVL trong quá trình sản xuất-kinh doanh. Theo đặc trưng này, NVL được phân ra các loại như sau: - Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. Trong ngành xây dựng cơ bản cần phải phân biệt NVL xây dựng, NVL kết cấu và thiết bị xây dựng. Các loại NVL này đều là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành nên sản phẩm của đơn vị xây dựng, các hạng mục công trình xây dựng nhưng chúng có sự khác nhau.
Nguyên vật liệu xây dựng là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được sử dụng trong đơn vị xây dựng để tạo nên các sản phẩm như hạng mục công trình, công trình xây dựng như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép…NVL kết cấu là những bộ phận của công trình xây dựng mà đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm xây dựng của đơn vị mình như thiết bị vệ sinh, thông gió, truyền hơi ấn, hệ thống thu lôi. - Nguyên vật liệu phụ: là những loại nguyên vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng không cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. Nguyên vật liệu phụ chỉ tác động phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Nó có tác dụng làm tăng chất lượng nguyên vật liệu chính và sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ thi công, cho nhu cầu công nghệ kỹ thuật bao gói sản phẩm.
trong ngành xây dựng cơ bản gồm: sơn, ve, đinh, dầu nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất. - Nhiên liệu: về thực thể là một loại nguyên vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình thi công, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, khí, rắn như: xăng, dầu, than củi, hơi đốt dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện máy móc, thiết bị hoạt động. - Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất.
SV: Vũ Thị Thêu 4 Lớp: K19 – KT1 - Thiết bị xây dưng cơ bản: bao gồn cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng. - Phế liệu: là các loại nguyên vật liệu loại ra trong quá trình thi công xây lắp như gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố dịnh. Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và kế toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại nguyên vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ, một cách chi tiết hơn bằng cách lập sổ danh điểm vật tư hàng hóa. Trong đó, mỗi loại, nhóm, thứ nguyên vật liệu được sử dụng một ký hiệu, quy cách của nguyên vật liệu.
Ký hiệu đó được gọi là sổ danh điểm nguyên vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp. - Nguyên vật liệu khác: là loại nguyên vật liệu đặc trưng của từng doanh nghiệp hoặc phế liệu thu hồi như gỗ, sắt, thép vụn…. Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và bài toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại NVL được chia ra thành từng nhóm, thứ một cách chi tiết hơn. Cách phân loại này là cơ sở để xác định mức tiêu hao, định mức dự trữ cho từng loại, từng thứ NVL là cơ sở để tổ chức hạch toán chi tiết NVL trong doanh nghiệp.
Việc phân chia này giúp cho kế toán tổ chức các TK chi tiết dễ dàng hơn trong việc quản lý, hạch toán NVL. Việc phân chia này còn giúp cho DN nhận biết rõ nội dung kinh tế và vai trò, chức năng của từng loại NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó đề ra những biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại NVL. Nếu căn cứ vào mục đích, công dụng của NVL thì NVL được chia thành: nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho thi công xây lắp, nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác như phục vụ, quản lý các phân xưởng, tổ đội xây lắp, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp. Nếu căn cứ vào nguồn nhập thì nguyên vật liệu được chia ra thành: nguyên vật liệu nhập do mua ngoài; nguyên vật liệu tự chế biến; nguyên vật liệu nhận góp vốn… Để đảm bảo cho việc tổ chức kế toán về mặt số lượng cũng như giá trị của từng thứ NVL, các doanh nghiệp còn mở Sổ danh điểm nguyên vật liệu.
TÍNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU Tính giá NVL là một công tác quan trọng trong việc tổ chức kế toán nguyên vật liệu. Tính giá nguyên vật liệu là việc dùng thước đo tiền tệ biểu hiện giá trị của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo yêu cầu chân thực và chính xác. Theo quy định hiện hành việc tính giá nguyên vật liệu phải tính toán và phản ánh theo giá trị thực tế, có nghĩa là khi nhập kho phải tính toán và phản ánh theo giá trị thực tế và khi xuất kho cũng phải xác định giá thực tế xuất kho theo đúng phương pháp quy SV: Vũ Thị Thêu 5 Lớp: K19 – KT1 định. Song do đặc điểm của nguyên vật liệu có nhiều chủng loại, thường xuyên biến động trong quá trình xây lắp và yêu cầu công việc kế toán nguyên vật liệu phải phản ánh kịp thời hàng ngày tình hình biến động và số hiện có của nguyên vật liệu nên trong công tác kế toán nguyên vật liệu còn có thể định giá theo giá hạch toán.