Chương 1. Cơ sở lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Thực trạng hoạt động kế toán xác định KQKD được Công ty TNHH Kế toán AGS áp dụng cho Công ty TNHH Chubu Engineering Việt Nam. Đánh giá thực trạng và giải pháp kiến nghị về hoạt động kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty khách hàng của công ty AGS.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1. KẾ TOÁN DOANH THU 1. Khái niệm và phân loại Dựa vào Điều 78 Khoản 1 Bộ Tài chính, Thông tư 200/2014/TT-BTC, 2014, "Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền." Theo (Bộ Tài chính, 2001), "Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi những rủi ro và lợi ích quan trọng gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa được chuyển sang cho người mua; doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng không kiểm soát hàng bán ra; giá trị doanh thu có thể được tính toán một cách đáng tin cậy; doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; chi phí liên quan đến giao dịch có thể được tính toán một cách đáng tin cậy".
Nghĩa là, doanh thu bán hàng là giá trị ghi tại các hóaiđơn chưa bao gồm VAT mà đơn vị đã nhận hoặc sẽ nhận từ việc bánisảniphẩm, và sau khi loại bỏ các khoản giảm trừ. Khi giao dịch phát sinh, lúc này DT được xác định, khiilợ iiích là đảm bảo i thuiđược mà không kể đến là giá trị đã thu hoặc sẽ thu trong tương lai. Phân loại: Phân loại doanh thu theo tính chất: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác. Theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh: Doanh thu bán hàng ra bên ngoài và nội bộ.
Kết quả hoạt động kinh doanh được xác định chính xác hơn bằng cách phân loại này đồng thời dự đoán được phương thức hoạt động hợp lý hơn. 6 Theo phương thức bán hàng: gồm có bán lẻ và bán buôn. Doanh nghiệp có thể thống kê được cường độ luân chuyển hàng hóa bằng cách phân loại này. Từ đó có thể trích lập được lượng hàng chính xác cần dự trữ hạn chế trường hợp tồn đọng quá nhiều hay thiếu hụt không cần thiết.
Theo cách thức thanh toán: doanh thu bán hàng trả góp, bán chịu, thu tiền ngay. DN sẽ dễ dàng ước tính các khoản nợ phải thu bằng phương thức này. Điều này còn hỗ trợ cho doanh nghiệp đánh giá, phân tích năng lực tất toán nợ của KH. Bên cạnh đó, đây còn là căn cứ để "lập dự phòng nợ phải thu khó đòi".
Dựa vào phương thức tình hình hoạt động kinh doanh: doanh thu cung cấp dịch vụ, bán thành phẩm, bán hàng hóa, v. Hoạt động mũi nhọn của doanh nghiệp sẽ được xác định dựa vào cách phân loại này đồng thời chiến lược kinh doanh của đơn vị có thể được tổ chức một cách hoàn thiện hơn. Theo (Leob, 2019) Đại học Mississipi, có đề cập về doanh số gồm tổng tất cả các giao dịch tiêu thụ trong một kỳ, trong khi "DT thuần" báo cáo thước đo DT được điều chỉnh để giải thích cho nhiều các khoản giảm trừ thông thường, các mặt hàng thường được khấu trừ từ tổng DT để đến nơi. Molson Coors chọn báo cáo doanh số bán hàng và DT thuần riêng biệt để tiết lộ số tiền công ty nộp thuế tiêu thụ đặc biệt trên báo cáo thu nhập.
Kể từ khi thuế tiêu thụ đặc biệt thường là thuế doanh thu thay vì thuế thu nhập, Molson Coors trừ số tiền trực tiếp từ doanh số bán hàng để đạt được con số doanh thu thuần mang tính biểu thị hơn doanh thu bán hàng thực tế của công ty. Nguyên tắc và điều kiện ghi nhận doanh thu Các nguyên tắc về ghi nhận doanh thu theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (Bộ Tài chính, 2002) là: "Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: a/ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn; b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; d/ Doanh thu 7 và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí". "Nguyên tắc phù hợp: Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó".
Tại Điều 79 Khoản 1.3, (Bộ Tài chính, Thông tư 200/2014/TT-BTC, 2014) "Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua; - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; - Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; - Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng". Chứng từ kế toán sử dụng Khi các nghiệp vụ về doanh thu cung cấp dịch vụ và bán hàng phát sinh, kế toán dựa vào "hóa đơn VAT, hóa đơn bán hàng thông thường; phiếu xuất kho và biên bản bàn giao hàng hóa; phiếu thu tiền mặt, giấy báo Có của ngân hàng, sao kê ngân hàng và các chứng từ phát sinh khác" như phiếu nhập kho hàng trả lại, phiếu tính lãi tiền gửi để tiến hành việc ghi nhận DT phát sinh trong kỳ. Hệ thống cơ bản về kế toán doanh thu 1. Kế toán doanh thu và cung cấp dịch vụ Theo Điều 79, (Bộ Tài chính, Thông tư 200/2014/TT-BTC, 2014) "tài khoản sử dụng là TK 511 – DT bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ và có 6 tài khoản cấp 2: TK 5111 – DT bán hàng hóa; TK 5112 - DT bán 8 các thành phẩm; TK 5113 - DT cung cấp dịch vụ; TK 5114 – DT trợ cấp, trợ giá; TK 5117 - DT kinh doanh bất động sản đầu tư; TK 5118 – DT khác". Một số quy trình hạch toán cơ bản Khi doanh nghiệp bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ, dựa vào "hóa đơn GTGT", các chứng từ thanh toán như "giấy báo Có, phiếu thu, hợp đồng mua bán", kế toán phản ánh vào bên Có của tài khoản "DT bán hàng và cung cấp dịch vụ" và tài khoản "thuế GTGT đầu ra phải nộp" (nếu có), đồng thời phản ánh vào bên nợ của tài khoản "Tiền mặt" (phiếu thu), TGNH (giấy báo Có) nếu nhận được tiền ngay hoặc tài khoản "Phải thu khách hàng" nếu khách hàng chưa thanh toán theo tổng giá thanh toán. Trong kỳ có phát sinh các khoản "giảm trừ doanh thu", căn cứ vào hóa đơn GTGT do người mua trả lại, hợp đồng kinh tế về các cam kết hoặc thỏa thuận giảm giá hàng bán, "chiết khấu thương mại", "hàng bán bị trả lại" để phản ánh các khoản "giảm trừ doanh thu" theo giá bán chưa bao gồm thuế GTGT, số "thuế GTGT đầu ra phải nộp" giảm đi tương ứng tỷ lệ với số DT giảm và các tài khoản đối ứng là vốn bằng tiền hoặc khoản "phải thu khách hàng" cũng giảm đúng với tổng giá thanh toán. Cuối kỳ, kế toán lập bút toán kết chuyển doanh thu thuần sang tài khoản "Xác định kết quả kinh doanh".
Kế toán doanh thu hoạt động tài chính Doanh thu hoạt động tài chính là tài khoản thể hiện các khoản doanh thu về tiền lãi, cổ tức, các khoản lợi nhuận được chia. Theo Điều 80 (Thông tư 200/2014/TT-BTC), "tài khoản sử dụng là TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính. Tài khoản 515 không có số dư cuối kỳ. Một số quy trình hạch toán cơ bản 9 Nếu doanh nghiệp thu cổ tức, lãi tiền gửi hoặc khoản lợi nhuận được chia bằng "tiền mặt" hoặc "TGNH".
Dựa vào chứng từ ngân hàng, ghi nhận vào bên nợ của TK tiền và bên có của tài khoản DT tài chính với đúng giá trị được ghi trên chứng từ. Nếu DN thu cổ tức hoặc lợi nhuận được chia bằng cổ phiếu, căn cứ vào thông báo nhận được: tăng khoản đầu tư tài chính cho đơn vị và đồng thời ghi tăng DTTC với đúng giá trị trên thông báo nhận được. Khi công ty thanh toán các khoản "Phải trả người bán" trước hạn và được người bán áp dụng "chiết khấu thanh toán". Dựa vào "hóa đơn giá trị gia" tăng và "hợp đồng mua bán", nếu thanh toán tiền ngay thì kế toán hạch toán tăng tài khoản tiền hay "tiền gửi ngân hàng" hoặc ghi giảm vào khoản "phải trả người bán" và hạch toán đồng thời ghi tăng tài khoản "doanh thu hoạt động tài chính".
Khi bán, chuyển nhượng hoặc thu hồi các khoản đầu tư tài chính có lãi, kế toán ghi giảm khoản đầu tư tài chính theo giá gốc và ghi tăng tài khoản tiền mặt, TGNH hoặc tài khoản "phải thu khách hàng"theo đúng giá trị bán, phần chênh lệch lãi được hạch toán vào bên có của tài khoản "đầu tư tài chính". Cuối kỳ, kết chuyển phần lãi tỷ giá phát sinh khi đánh giá chênh lệch tỷ giá hối đoái số dư cuối kỳ các khoản tiền có gốc ngoại tệ. Cuối kỳ, kết chuyển tài khoản 911- XĐKQKD. Kế toán thu nhập khác Theo (Bộ Tài chính, Thông tư 200/2014/TT-BTC, 2014), "tài khoản sử dụng là TK 711 – Thu nhập khác và không có số dư cuối kỳ." Quy trình phản ánh Thu do người mua không thực hiện đúng nghĩa vụ với người bán, ghi nhận tăng trên TK "thu nhập khác" và tài khoản "tiền mặt","TGNH"theo số đúng với chứng từ.
Thu nhập từ việc "thanh lý, nhượng bán TSCĐ".