chương 1 tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc khóa luận, phần phương pháp nghiên cứu tác giả sẽ trình bày ở chương 2. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (Ngân hàng hoạt động theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 năm 2010; Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 năm 2010; Luật Kế toán số 03/2003/QH11 năm 2003, Chế độ Kế toán theo Thông tư số 49/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 Sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/4/2007 và Hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 479/2004/QĐ-NHNN ngày 29/4/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước) 2. Khái quát về ngân hàng thương mại (NHTM) 2. Khái quát về NHTM 2.
Khái niệm về NHTM Theo luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành luật số 47/2010/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 tại Điều 4 khoản 2, khoản 3 đã nêu rõ: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện được tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” 2. Chức năng của NHTM Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế - xã hội hiện nay, thì ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản của nó: Chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền và chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng.
Chức năng trung gian tín dụng Hoạt động chính của NHTM là đi vay để cho vay. Điều này chứng tỏ rằng một trong những chức năng quan trọng của NHTM là làm trung gian tín dụng. Tức là một mặt NH sẽ huy động các khoản tiền nhàn rỗi ở mọi chủ thể trong xã hội từ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân, hộ gia đình, …Mặt khác, NH sẽ dùng nguồn vốn đã huy động để cho vay lại các chủ thể có nhu cầu bổ sung vốn. Theo cách thức đó, NHTM sẽ là cầu nối giữa các chủ thể dư thừa vốn tạm thời và các chủ thể thiếu vốn tạm thời có nhu cầu vay vốn, qua đó sẽ tạo lợi ích cho cả ba bên: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay.
Lợi nhuận này chính là cơ sở, điều kiện để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH. 4 Ngân Người dư thừa hàng Người cần vốn thương vốn mại Hình 2. Quy trình huy động vốn Chức năng trung gian thanh toán NHTM làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng thu tiền bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây, NHTM đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và các cá nhân bởi NH là người giữ tài khoản của họ.
Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một sự yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện các chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư tài khoản tiền gửi khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng Nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, do vậy, ngoài chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại còn thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng. Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung ứng Theo Philip Kotler; “ Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”. 5 Các dịch vụ ngân hàng bao gồm: Các dịch vụ ngân hàng truyền thống bao gồm: Thực hiện trao đổi và buôn bán ngoại tệ, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá trị, tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch, cung cấp các dịch vụ ủy thác, chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại, thanh toán.
Các dịch vụ ngân hàng hiện đại bao gồm: Cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án, thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM), quản lý tiền mặt, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ ngân hàng tại gia, cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, quản lý đầu tư, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, bảo lãnh. Khái quát chung về huy động vốn của NHTM 2. Vốn của NHTM Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư, hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Trong NHTM thì vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn khoảng 70-80% tổng nguồn vốn của ngân hàng nên nó có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vốn là cở sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, nó quyết định quy mô hoạt động tín dụng, năng lực thanh toán, đảm bảo uy tín và góp phần tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Vì vậy các ngân hàng không ngừng đa dạng các hình thức huy động để gia tăng nguồn vốn huy động của mình. Cơ cấu nguồn vốn: Nguồn vốn tự có Trước hết ngân hàng phải có số vốn tự có làm điều kiện ban đầu cho sự nghiệp kinh doanh của mình. Số vốn tự có thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn của ngân hàng thương mại, vốn tự có ngân hàng thương mại gồm: Vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối,.
6 Vốn huy động Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM. Vốn huy động được là tài sản bằng tiền tạm thời nhàn rỗi của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải kịp thời và đầy đủ cho khách hàng. Vốn huy động gồm: - Tiền gửi thanh toán. - Tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn).
- Tiền gửi theo kỳ hạn. - Tài khoản tiền gửi cá nhân. - Phát hành giấy tờ có giá. Vốn điều chuyển: Vốn điều chuyển là nguồn vốn mà chi nhánh điều chuyển từ hội sở hay các chi nhánh khác trong cùng hệ thống khi nguồn vốn huy động không đủ để đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh của ngân hàng.
Vốn đi vay và vốn khác Trong những trường hợp cần vốn gấp với số lượng lớn hoặc cần thiết để bù đắp thiếu hụt tạm thời thì buộc NHTM phải đi vay của các ngân hàng khác hoặc ngân hàng Trương ương, bao gồm: - Vay các tổ chức tín dụng trong nước. - Vay của NH Trung ương. - Chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá. - Nguồn vốn hình thành trong thanh toán.
- Vốn ủy thác. Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của NHTM Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng. Đây là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Năng lực của đội ngũ nhân viên cũng như của các nhà quản lý Ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm từ doanh nghiệp và cá nhân là một thước đo quan trọng về sự chấp nhận của công chúng đối với Ngân hàng.
Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản vay và do đó nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong Ngân hàng. Khi huy động tiền gửi, Ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, Ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Khả năng huy động vốn với mức lãi suất hợp lý cũng như khả năng đáp ứng các yêu cầu xin vay là những chỉ số đánh giá tính hiệu quả trong quản lý Ngân hàng. Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng không những đem 7 lại cho Ngân hàng một nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh, mà còn giúp cho Ngân hàng có thể nắm bắt được thông tin, tư liệu chính xác về tình hình tài chính của các tổ chức kinh tế và cá nhân có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, tạo điều kiện cho Ngân hàng có căn cứ để quy định mức vốn để đầu tư cho vay vốn đối với những khách hàng đó.
Vốn tiền mà Ngân hàng huy động được trên các khoản tiền gửi của khách hàng còn là cơ sở cho các tổ chức thanh tra, kiểm toán thực hiện được nhiệm vụ nhanh chóng, chính xác phát hiện kịp thời tham ô, trốn thuế, lừa đảo của những doanh nghiệp làm ăn không chính đáng, ngăn chặn những vụ tiêu cực, xử lý kịp thời những kẻ vi phạm pháp luật. Nguyên tắc huy động vốn Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn - Hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng vô điều kiện. - Tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành. - Giữ gìn bí mật số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng.