Chương I: Giới thiệu nghiên cứu Chương II: Các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương IV: Kết luận và hàm ý 3 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các nghiên cứu trước Qua việc tham khảo một số luận văn với chung một đề tài, em nhận thấy được những điểm tương đồng và khác biệt ở mỗi bài luận, những đóng góp của tác giả cho từng nghiên cứu. Tác giả Dương Trần Anh Thư (2023) đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH tư vấn xây dựng Hoài Đức”. Đóng góp của đề tài nghiên cứu đã khái quát hóa cơ sở lý luận về hạch toán doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng.
Tác giả tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng hạch toán doanh thu, chi phí của HDXD tại Công ty TNHH tư vấn xây dựng Hoài Đức. Đề tài đã chỉ ra một số ưu điểm, tồn tại hiện có về nội dung HDXD như: Về việc xác định nội dung doanh thu và chi phí của HDXD; Về việc ghi nhận doanh thu và chi phí của HDXD; Về việc hạch toán doanh thu và chi phí của HDXD; Về việc trình bày các thông tin có liên quan đến HDXD trên báo cáo tài chính. Tác giả đề xuất các đóng góp giúp Công ty đổi mới và thu hút khách hàng hơn từ đó Công ty thực hiện tốt quá trình hạch toán doanh thu, chi phí HDXD, tránh thất thoát, hạch toán sai. Tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2018) đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH thương mại TM VIỆT NAM”.
Đề tài đã tóm tắt được một số vấn đề lý thuyết cơ bản về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại chuyên sản xuất đồ chơi cho trẻ em. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong năm 2017, có 2 yếu tố làm giảm lợi nhuận công ty: hàng bán bị trả lại và chi phĩ lãi vay. Lượng hàng bán bị trả lại tăng nhiều so với năm 2016; chi phí lãi vay tăng vào đầu năm 2017 do khoản vay ngân hàng của Công ty. Với nội dung trên, luận án đưa ra một số nhận xét về tổ chức công 4 tác kế toán tại Công ty và một số kiến nghị nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty.
Tác giả Nguyễn Thị Hải Lý (2016) đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty TNHH Long Thịnh”. Đề tài đã trình bày những đặc điểm cơ bản, những nét đặc trưng của doanh nghiệp xây lắp. Từ đó, phân tích được đặc thù riêng trong doanh nghiệp KDXL, phương pháp định khoản các nghiệp vụ chi phí; phương pháp tính giá thành và xác định giá trị SPDD; ghi nhận tổng doanh thu, lãi lỗ khi nghiệm thu công trình. Tác giả đã tổng kết được những mặt sáng của Công ty và nêu ra những mặt hạn chế cần cải thiện và nâng cao chất lượng để từ đó nhận thầu nhiều công trình hơn, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
Tác giả Trương Ngọc Quỳnh Như (2020) với đề tài: “ Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Thái Gia Sơn”. Đề tài đã cho thấy thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại một doanh nghiệp thương mại. Đề tài đã chỉ ra được các công việc hàng ngày của một kế toán viên bán hàng, những điểm nổi bật của doanh nghiệp trong việc quản lý hàng bán, chất lượng sản phẩm được đưa ra thị trường, hạch toán doanh thu đúng quy tắc, chế độ hiện hành. Nghiệp vụ giảm giá hàng bán ở công ty không xảy ra chứng minh rằng công ty luôn lựa chọn những mặt hàng tốt, chất lượng.
Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra được những nhược điểm cần lưu ý. Về hệ thống sổ sách, số lượng hàng xuất bán ra nhiều, hình thức thanh toán chậm thường xuyên xảy ra nhưng Công ty lại không sử dụng sổ nhật ký bán hàng. Vế hạch toán công nợ, khoản chiết khấu thanh toán vẫn chưa được Công ty áp dụng nhiều cho các nhà cung cấp thân thiết và khoản dự phòng phải thu khó đòi vẫn chưa được Công ty thực hiện. Về chính sách tiền lương, tiền lương trả theo thời gian chưa thực sự gắn chặt giữa thu nhập với kết quả lao động nên chưa thúc đẩy được nhân viên phát huy hết tiềm năng trong công việc.
Đề tài nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh như: Về kế toán dự phòng; Về hệ thống sổ sách và mở sổ chi tiết bán hàng; Về những chính sách, chiến lược đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ. 5 Tác giả Võ Thị Ngọc Luyến (2022) đã với đề tài: “ Quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại Công ty TNHH Kiểm toán Sao Việt”. Nghiên cứu này nhằm mục đích giới thiệu quy trình chung áp dụng khi kiểm toán khoản mục doanh thu của Công ty TNHH Kiểm toán Sao Việt và áp dụng thực tế tại Công ty Khách hàng. Tác giả đưa ra quy trình để thiết lập thủ tục kiểm soát thích hợp: Hiểu biết về môi trường hoạt động; Đánh giá hệ thống KSNB để làm tiền đề đánh giá rủi ro dựa trên xét đoán chuyên môn của KTV; xác định được những vùng xảy ra rủi ro và tập trung nguồn lực vào những vùng đó.
Ngoài ra nghiên cứu này cũng đề xuất một số hướng giải quyết và đóng góp để hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính nói chung và quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu nói riêng tại Công ty. Tóm lại, các nghiên cứu trước đã nghiên cứu về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại nhiều đơn vị khác nhau. Tuy nhiên, về lĩnh vực dịch vụ vẫn còn chưa nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm cải thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Công tác kế toán ở lĩnh vực xây dựng vẫn còn hạn chế về nhiều mặt như: Quy trình ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; Quy trình tập hợp các chi phí tại doanh nghiệp dịch vụ.
Đặc biệt, công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH GIT ACADEMY chưa được thực hiện nghiên cứu. Do vậy tác giả chọn đề tài: “Công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH GIT ACADEMY” với mục tiêu tìm hiểu, nghiên cứu và giúp doanh nghiệp hoạt động hiểu quả hơn. Những vấn đề chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: “ Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác.” (THS Nguyễn Anh Hiền, 2014) 6 “ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh: là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.” (THS Nguyễn Anh Hiền, 2014) Kết quả hoạt động tài chính: Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư về vốn, đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu kiếm lời. “ Kết quả hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.” (THS Nguyễn Anh Hiền, 2014) Kết quả hoạt động khác: “ Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp.
Sự cần thiết của tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh. Bất cứ một doanh nghiệp nào khi thành lập, công ty đều quan tâm đến doanh thu của mỗi kỳ kế toán hay mỗi tháng tổng kết, tổng hợp các chi phí bỏ ra trong một kỳ và từ đó xác định lợi nhuận, lãi hay lỗ để các nhà lãnh đạo nắm rõ được tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy xác định KQHDKD được xem là vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Khi chỉ số lợi nhuận trên bảng báo cáo KQHDKD tăng so với năm ngoái, điều đó thể hiện rõ Công ty và bộ phận lãnh đạo đã đưa ra chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp với nhu cầu thị trường từ đó doanh nghiệp có chỗ đứng vững trong ngành.
Mỗi năm doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao so với định mức đề ra cũng giúp Công ty thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm với Nhà nước và xã hội thông qua việc nộp thuế vô Ngân sách Nhà nước đầy đủ. Kế toán doanh thu 2. Kế toán doanh thu bán hàng a) Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS14 –Doanh thu và thu nhập khác được ban hành và quản lý theo quyết định số149/2001/QĐ-BTCngày 31/12/2001 của BTC: 7 Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.
Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải là doanh thu.