Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4: Kết luận và hàm ý.
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Các nghiên cứu trước. Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh là một đề tài khá phổ biến và thường xuyên được chọn làm đề tài nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, mỗi dự án nghiên cứu có phạm vi và trọng tâm nghiên cứu riêng với mục tiêu chung là hoàn thiện và nâng cao công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp.
Dưới đây là một số bài nghiên cứu cụ thể: Tác giả Trần Thị Nam Thanh (2009) đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty cổ phần xây lắp đã niêm yết thuộc Tổng Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Xây dựng Việt Nam – Vinaconex”. Đề tài đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp xây lắp. Tác giả tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty cổ phần xây lắp đã niêm yết thuộc Tổng Công ty Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Xây dựng Việt Nam – Vinaconex. Luận văn đã nêu được một số tồn tại trong công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh và nêu được các nguyên nhân của những tồn đọng.
Trong đề tài trên, tác giả đã đề xuất những nội dung nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại đơn vị. Tác giả Nguyễn Thị Như Thảo (2011) đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Vận dụng chuẩn mực kế toán số 15 (VAS 15) “Hợp đồng xây dựng” trong hạch toán doanh thu và chi phí tại Công ty cổ phần Xây dựng Thủy lợi Hải Dương”. Đóng góp của đề tài nghiên cứu đã khái quát hóa cơ sở lý luận về hạch toán doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng xây dựng được đề cập trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15. Tác giả tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng hạch toán doanh thu và chi phí của Hợp đồng xây dựng tại Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi Hải Dương.
Đề tài đã chỉ ra một số ưu điểm, tồn tại hiện có về nội dung hợp đồng xây dựng như: Về hợp đồng xây dựng; Về việc xác định nội dung doanh thu và chi phí của HĐXD; Về việc ghi nhận doanh thu và chi phí của HĐXD; Về việc hạch toán doanh thu và chi phí của HĐXD; Về việc trình bày các thông tin có liên quan đến 4 HĐXD trên báo cáo tài chính. Căn cứ vào kiến thức đã có về các quy định, các chuẩn mực kế toán, đặc biệt là chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15, tác giả đã đề xuất các phương hướng giải quyết các vấn đề còn tồn tại từ đó giúp công ty thực hiện tốt quá trình hạch toán doanh thu, chi phí hợp đồng xây dựng, tránh thất thoát, hạch toán sai. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Yến Thảo (2013) đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Xây dựng và Phát triển miền Nam”. Đề tài đã trình bày những đặc điểm cơ bản, những nét đặc trưng của doanh nghiệp xây lắp.
Từ đó, phản ảnh quá trình ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực hiện định khoản; Phương pháp hạch toán chi phí; Phương pháp tính giá thành. Tác giả đã tổng kết được nhiều ưu điểm trong công tác hạch toán kế toán tại đơn vị cũng như những tồn tại cần được hoàn thiện. Trong đề tài nghiên cứu trên, tác giả đã đưa ra những nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá thành tại Công ty, giúp sử dụng hiệu quả các nguồn lực tiềm năng. Tác giả Đào Thị Thúy Anh (2014) đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần tư vấn và thiết kế xây dựng Đông Nam Á”.
Đề tài đã cho thấy thực trạng công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại một doanh nghiệp tư vấn xây dựng. Đề tài đã chỉ ra được những ưu điểm của doanh nghiệp như việc hạch toán doanh thu đúng quy tắc, chế độ hiện hành, các chi phí về quản lý doanh nghiệp đều dễ quản lý. Công ty không phát sinh các khoản giảm trừ doanh chứng minh rằng công ty luôn sử dụng và tiêu thụ những vật tư xây dựng chất lượng. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra được những nhược điểm cần lưu ý.
Công ty vẫn đang kết chuyển, xác định doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động kinh doanh chỉ trên sổ sách nhưng việc này sẽ gây khó khăn cho việc kiểm tra, rà soát số liệu. Về hạch toán công nợ, công ty vẫn chưa có nhiều khoản chiết khấu thanh toán và công ty chưa tiến hành các khoản dự phòng cho số khách hàng khó đòi. Về hiện đại hóa công tác kế toán và đội ngũ kế toán, công ty đã và đang sử dụng máy tính và chưa sử dụng phần mềm kế toán tiên tiến. Đề tài nghiên cứu cũng đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả 5 kinh doanh như: Về hệ thống sổ sách và mở sổ chi tiết bán hàng; Về hiện đại hóa công tác kế toán và đội ngũ kế toán; Chính sách chiết khấu thương mại và chiết khấu thanh toán; Trích lập dự phòng phải thu khó đòi; Về công tác kế toán quản trị.
Tác giả Đinh Trần Ngọc Huy và Các cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu về: “Mối quan hệ giữa quản lý chi phí và doanh thu trong công tác kế toán và phát triển bền vững – Nghiên cứu tình huống ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam” (Tạp chí Kinh tế và Quản trị kinh doanh số 19 – 2021). Nghiên cứu nhằm mục đích xác định yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một công ty vật liệu xây dựng điển hình tại tỉnh Đồng Nai, Việt Nam. Tác giả phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp bền vững thành 3 nhóm chính: 1) nhóm các yếu tố quản lý chi phí; 2) nhóm các yếu tố quản lý doanh thu; và 3) nhóm các yếu tố vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố bên ngoài như lãi suất cho vay, GDP, CPI có tác động mạnh đến tăng trưởng doanh thu thuần của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, sự gia tăng chi phí bán hàng, quản trị công ty và quản lý tài sản, lợi nhuận có thể thúc đẩy doanh thu. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đề xuất một số giải pháp quản trị và chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp bền vững ở nước ta. Tóm lại, các nghiên cứu trước đã nghiên cứu về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại nhiều đơn vị khác nhau. Tuy nhiên, về lĩnh vực xây dựng vẫn còn chưa nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm cải thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh.
Công tác kế toán ở lĩnh vực xây dựng vẫn còn hạn chế về nhiều mặt như: Quy trình ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; Quy trình tập hợp các chi phí tại doanh nghiệp xây dựng. Đặc biệt, công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Tư vấn Xây dựng Hoàn Đức chưa được thực hiện nghiên cứu. Do vậy tác giả chọn đề tài: “Công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Tư vấn Xây dựng Hoàn Đức” với mục tiêu tìm hiểu, nghiên cứu và giúp doanh nghiệp hoạt động hiểu quả hơn. Những vấn đề chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty xây dựng.
Ngành xây dựng là ngành sản xuất độc lập có những điểm đặc thù về mặt kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng. Doanh thu của hợp đồng xây dựng bao gồm: Doanh thu ban đầu được ghi trong hợp đồng; và Các khoản tăng, giảm khi thực hiện hợp đồng, các khoản tiền thưởng và các khoản thanh toán khác nếu các khoản này có khả năng làm thay đổi doanh thu, và có thể xác định được một cách đáng tin cậy. Doanh thu của hợp đồng xây dựng được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. Việc xác định doanh thu của hợp đồng chịu tác động của nhiều yếu tố không chắc chắn vì chúng tuỳ thuộc vào các sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.
Việc ước tính thường phải được sửa đổi khi các sự kiện đó phát sinh và những yếu tố không chắc chắn được giải quyết. Vì vậy, doanh thu của hợp đồng có thể tăng hay giảm ở từng thời kỳ. Ví dụ: Nhà thầu và khách hàng có thể đồng ý với nhau về các thay đổi và các yêu cầu làm tăng hoặc giảm doanh thu của hợp đồng trong kỳ tiếp theo so với hợp đồng được chấp thuận ban đầu; Doanh thu đã được thỏa thuận trong hợp đồng với giá cố định có thể tăng vì lý do giá cả tăng lên; Doanh thu theo hợp đồng có thể bị giảm do nhà thầu không thực hiện đúng tiến độ hoặc không đảm bảo chất lượng xây dựng theo thỏa thuận trong hợp đồng; Khi hợp đồng với giá cố định quy định mức giá cố định cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành thì doanh thu theo hợp đồng sẽ tăng hoặc giảm khi khối lượng sản phẩm tăng hoặc giảm. Sự thay đổi theo yêu cầu của khách hàng về phạm vi công việc được thực hiện theo hợp đồng.
Ví dụ: Sự thay đổi yêu cầu kỹ thuật hay thiết 7 kế của tài sản và thay đổi khác trong quá trình thực hiện hợp đồng.