CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP. Các khái niệm, phân loại doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Doanh thu và phân loại doanh thu 1. Khái niệm doanh thu Chuẩn mực kế toán IAS 18 – Doanh thu định nghĩa “ Doanh thu là dòng tiền đầu vào mà doanh nghiệp thu được trong quá trình hoạt động ( dòng tiền dẫn đến sự gia tăng vốn chủ sở hữu hoặc ảnh hưởng đến sự đóng góp của vốn chủ sở hữu).
Theo quy định tại điều 8 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 của Quốc hội khóa 12: “ Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng. Doanh thu được tính bằng đồng Việt Nam, trường hợp có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải qui đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh giao dịch ngoại tệ. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) định nghĩa: “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng).
Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu” Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 thì “Doanh thu” được định nghĩa là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Qua nghiên cứu các khái niệm doanh thu có thể thấy rằng dù khái niệm về Luan van 8 doanh thu có được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhưng cùng hướng về một nội dung: “Doanh thu chỉ bao gồm những giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu, cũng như các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng cũng không coi là doanh thu.
Khi tìm hiểu về doanh thu cần quan tâm đến các khái niệm sau: - Doanh thu thuần: Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu. Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. - Chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại phải trả là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn - Giảm giá hàng bán: Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế. - Hàng bán bị trả lại: giá trị của số sản phẩm, hàng hóa bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách.
Phân loại doanh thu: Để thuận tiện cho công tác quản lí và kế toán doanh thu, doanh thu có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu quản lí và kế toán. Việc phân loại doanh thu có thể dựa trên những tiêu thức sau: Thứ nhất, phân loại theo nội dung, doanh thu bao gồm: - Doanh thu bán hàng: là doanh thu bán sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và bán bất động sản đầu tư. - Doanh thu cung cấp dịch vụ: là doanh thu thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hay nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê tài sản cố định theo phương thức cho thuê hoạt động… - Doanh thu bán hàng nội bộ: là doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Luan van 9 tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp, là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ nội bộ giũa các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty tính theo giá bán nội bộ. - Doanh thu hoạt động tài chính: là doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.
- Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Là toàn bộ doanh thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước trong kì khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo qui định của Nhà nước. Cách phân loại doanh thu theo nội dung giúp doanh nghiệp theo dõi chi tiết doanh thu từ đó xây dựng được các tài khoản chi tiết doanh thu theo từng nội dung kinh tế, thuận lợi cho công tác kế toán chi tiết. Thứ hai, căn cứ theo nguồn hình thành, doanh thu của một doanh nghiệp bao gồm: - Doanh thu từ hoạt động kinh doanh: là toàn bộ tiền bán sản phẩm hàng hóa, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng sau khi trừ đi khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Nó bao gồm các khoản chi phí thu thêm ngoài giá bán và giá trị của các sản phẩm đem biếu tặng, trao đổi hoặc tiêu dùng cho nội bộ doanh nghiệp.
- Doanh thu từ hoạt động tài chính: là những khoản thu do hoạt động đầu tư tài chính hoặc kinh doanh về vốn đem lại. Doanh thu hoạt động tài chính gồm tiền lãi (lãi cho vay, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, lãi về chuyển nhượng chứng khoán, lãi do bán ngoại tệ), thu nhập từ cho thuê tài sản, cho thuê cơ sở hạ tầng (bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm vi tính), cổ tức được hưởng, lợi nhuận được chia từ hoạt động liên doanh, lãi về chuyển nhượng vốn, chênh lệch tăng tỷ giá ngoại tệ và các khoản doanh thu khác (doanh thu nhượng bán bất động sản, giá cho thuê đất) - Doanh thu khác: đó là các khoản thu từ hoạt động xảy ra không thường xuyên ngoài các khoản thu trên như: thu nhập từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu hồi nợ khó đòi, thu nợ vô chủ, thu nhập quà biếu, quà tặng, các khoản Luan van 10 thu nhập kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót, các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hóa sản phẩm, dịch vụ không tính trong doanh thu. Theo cách phân loại này giúp doanh nghiệp hạch toán được doanh thu cho từng hoạt động. Từ đó xác định được tỷ trọng doanh thu của từng loại hoạt động và xác định hoạt động kinh doanh trọng điểm của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó nhà quản trị có thể đưa ra phương án kinh doanh hợp lý. Thứ ba, phân loại doanh thu theo mối quan hệ với điểm hòa vốn (phân loại theo Kế toán quản trị) - Doanh thu thực tế: là khoản doanh thu mà doanh nghiệp nhận được trong kỳ, không bao gồm các khoản doanh thu nhận trước. - Doanh thu hòa vốn: là tích của sản lượng hòa vốn với giá bán. Tại điểm hòa vốn thì doanh thu bằng chi phí hay số dư đảm phí bằng chi phí bất biến.
- Doanh thu an toàn là chênh lệch giữa doanh thu đạt được ( theo dự tính hoặc theo thực tế) so với doanh thu hòa vốn. Cách phân loại này giúp nhà quản trị nhận thức được những vấn đề cơ bản và trực quan về tình hình kết quả kinh doanh nói chung và của nhóm, mặt hàng, bộ phận nói riêng; xác định được phạm vi lãi, lỗ cũng như đo lường được mức độ an toàn hay tính rủi ro trong kinh doanh của từng nhóm, mặt hàng hay bộ phận bán hàng. Chi phí và phân loại chi phí 1. Khái niệm chi phí: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung, Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Luan van 11 Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố tư liệu lao động, đối tương lao động và sức lao động để tạo ra giá trị sử dụng mới, đó là các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động (chi phí lao động vật hóa) và chi phí về sức lao động (chi phí lao động sống). Trên phương diện này, chi phí là sự ghi nhận trên góc độ chủ sở hữu những gì đã bỏ ra với mục đích sẽ thu được những lợi ích lớn trong tương lai. Chi phí có thể được hiểu như là một sự giảm tạm thời của vốn chủ sở hữu.
Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hóa cần thiết cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ ra trong một kỳ kinh doanh. Theo quan điểm kinh tế, chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Tóm lại, theo nghĩa chung nhất có thể hiểu chi phí là sự ghi nhận những gì đã bỏ ra của chủ sở hữu với kỳ vọng là thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.